Tiếng nói của lòng dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số giữa nghị trường - Bài 3: Thẳng thắn, chân thành như tấm lòng người vùng cao
Thẳng thắn, chân thành và đầy trách nhiệm, những tiếng nói ấy không chỉ phản ánh trung thực hơi thở cuộc sống của đồng bào các dân tộc mà còn góp phần quan trọng trong hoạch định chính sách, hoàn thiện hệ thống pháp luật, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Tự nhận thấy mình “còn nợ dân nhiều điều”
Một buổi trưa đầu tháng 3-2026, tiếp chúng tôi tại nhà riêng ở Tổ dân phố 5 Quang Trung, phường Hà Giang 2, tỉnh Tuyên Quang, khi nhắc lại quãng thời gian còn công tác, Thiếu tướng Sùng Thìn Cò, dân tộc Mông, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 2, ĐBQH khóa XIV, bày tỏ không ít suy nghĩ day dứt. Ông tâm sự rằng, dù đã cố gắng trong phạm vi trách nhiệm của mình nhưng nhìn lại vẫn thấy “còn nợ dân nhiều điều”.
Theo Thiếu tướng Sùng Thìn Cò, làm ĐBQH trước hết phải là người thay mặt nhân dân nói lên tiếng nói chân thực của cuộc sống. Nhưng trong thực tế, do khối lượng công việc nhiều, thời gian dành cho việc đi cơ sở, gặp gỡ người dân còn hạn chế nên nhiều khi chưa hiểu hết tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới còn nhiều khó khăn. Chính vì thế, ông luôn cảm thấy mình chưa thực sự làm tròn trách nhiệm với cử tri. Sau khi nghỉ hưu, trở về địa phương, trực tiếp chứng kiến cuộc sống của bà con còn nhiều vất vả, ông càng thấy rõ hơn những điều mình chưa kịp làm cho dân.

Đại biểu Quốc hội Sùng Thìn Cò phát biểu tại hội trường trong kỳ họp của Quốc hội khóa XIV. Ảnh do Văn phòng Quốc hội cung cấp
“Muốn phản ánh đúng tiếng nói của cử tri thì người đại biểu không thể chỉ dựa vào các cuộc tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp. Điều quan trọng hơn là phải “lăn lộn” với cơ sở, đi thẳng đến từng thôn, bản, từng gia đình, trực tiếp nhìn thấy cuộc sống của người dân, nghe người dân nói và hiểu được những khó khăn, trăn trở của họ. Có như vậy, tiếng nói đưa ra nghị trường mới sát thực tế, mới thực sự là tiếng nói của lòng dân”, Thiếu tướng Sùng Thìn Cò bày tỏ.
Minh chứng sống động cho chính sách dân tộc nhất quán
Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội Cao Thị Xuân nhìn nhận, hành trình 80 năm qua của Quốc hội Việt Nam không chỉ là lịch sử của một cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất mà còn là hiện thân sinh động của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quy tụ mọi tầng lớp, tôn giáo, nhân sĩ yêu nước để xây dựng và bảo vệ nền độc lập. Sự hiện diện của các đại biểu là người Tày, Nùng, Thái, Mông... ngay từ Quốc hội khóa I đã khẳng định nguyên tắc: Quốc hội là của dân, do dân và vì dân. “Việc duy trì tỷ lệ ĐBQH là người DTTS ở mức cao qua 15 nhiệm kỳ Quốc hội là minh chứng sống động nhất cho chính sách dân tộc nhất quán của Đảng, Nhà nước ta”, ĐBQH Cao Thị Xuân chia sẻ.
Theo đánh giá của nữ Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc là người dân tộc Mường, các ĐBQH người DTTS đã đóng góp tích cực vào công tác lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chung của Quốc hội trong thời gian qua; không chỉ đóng góp về chuyên môn mà còn mang theo thực tiễn đặc thù từ vùng đồng bào DTTS và miền núi, vùng khó khăn vào nghị trường trong công tác lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, giúp Quốc hội nhìn thấy những "khoảng trống" pháp lý khi xây dựng, áp dụng pháp luật vào vùng DTTS và miền núi, nhất là về Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Luật Giáo dục...; kiến tạo chính sách phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi, thông qua việc các đại biểu đã trực tiếp tham mưu, quyết định những quyết sách mang tính bước ngoặt như việc xây dựng và giám sát các chương trình mục tiêu quốc gia, trong đó nổi bật là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030 đã được Quốc hội thông qua tại Nghị quyết số 88/2019/QH14. “Đây là quyết định mang tính lịch sử của Quốc hội, là căn cứ để Nhà nước tăng cường đầu tư cho vùng DTTS và miền núi, tạo điều kiện để vùng này phát huy hơn nữa tiềm năng, lợi thế, nỗ lực vượt khó vươn lên phát triển cùng đất nước”, ĐBQH Cao Thị Xuân nói.
Xứng đáng với niềm tin của cử tri
Trong các hoạt động nghị trường, những tiếng nói đến từ vùng cao, vùng sâu, vùng xa luôn mang theo hơi thở thực tiễn sinh động của đời sống nhân dân. Chính vì vậy, những vấn đề được nêu ra tại nghị trường thường chạm đúng những “điểm nóng” của xã hội.
Hẳn cử tri cả nước còn nhớ những phát biểu thẳng thắn, giàu trách nhiệm của ĐBQH khóa XIV Ksor H’B Khắp, người con của Tây Nguyên. Từ góc nhìn của một cán bộ gắn bó lâu năm với vùng đồng bào DTTS, bà đã nhiều lần lên tiếng về những bất cập trong chính sách phát triển vùng sâu, vùng xa, đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao đời sống cho đồng bào.
Hay như ĐBQH khóa XIV Sùng Thìn Cò, trong nhiều phiên thảo luận, ông đã thẳng thắn nêu lên những vấn đề liên quan đến quản lý đất đai, chống lãng phí nguồn lực và đặc biệt là công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Một trong những phát biểu được dư luận quan tâm của ông là: Tài sản lớn nhất của Đảng, Nhà nước là lòng dân. Vì thế, phải loại bỏ tham nhũng, tiêu cực, lãng phí để không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân. Câu nói giản dị nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu sắc ấy đã nhận được sự đồng tình rộng rãi của cử tri cả nước. Nó cũng phản ánh tinh thần trách nhiệm của những đại biểu xuất thân từ cơ sở, luôn đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết.
Thực tiễn hoạt động nghị trường cho thấy, nhiều kiến nghị của các ĐBQH là người DTTS đã góp phần trực tiếp thúc đẩy việc ban hành các quyết sách quan trọng của Đảng, Nhà nước. Một trong những dấu ấn rõ nét là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2030. Đây là lần đầu tiên Việt Nam có một chương trình mục tiêu quốc gia riêng cho vùng đồng bào DTTS. Chương trình được triển khai với tổng nguồn lực dự kiến hơn 137.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2021-2025, tập trung vào 10 dự án thành phần, từ phát triển hạ tầng, hỗ trợ sinh kế, giáo dục, y tế đến bảo tồn văn hóa dân tộc. Nhiều ý kiến của ĐBQH là người DTTS tại các kỳ họp trước đó đã chỉ ra khoảng cách phát triển giữa vùng núi và đồng bằng, qua đó góp phần thúc đẩy Quốc hội và Chính phủ xây dựng chương trình quy mô lớn này.
Cùng với đó, từ những kiến nghị tại nghị trường về việc bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục cho con em vùng sâu, vùng xa, Quốc hội và Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ học sinh DTTS. Chẳng hạn, chính sách hỗ trợ học sinh bán trú và nội trú đã giúp hàng trăm nghìn học sinh vùng cao có điều kiện đến trường. Đến hết năm 2025, cả nước có hơn 330 trường phổ thông dân tộc nội trú và hơn 1.200 trường phổ thông dân tộc bán trú, tạo điều kiện học tập cho hơn 300.000 học sinh là con em đồng bào các DTTS.
Ngoài ra, từ các đề xuất tại Quốc hội, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng được mở rộng trên phạm vi cả nước, mang lại nguồn thu ổn định cho người dân miền núi. Riêng năm 2024, tổng số tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng đạt khoảng 3.800 tỷ đồng, góp phần cải thiện đời sống cho hàng trăm nghìn hộ dân vùng cao. Những con số cụ thể ấy cho thấy những ý kiến đóng góp của ĐBQH là người DTTS không chỉ dừng lại ở diễn đàn nghị trường mà đã thực sự trở thành động lực quan trọng để hình thành nhiều chính sách lớn, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi.
Nhìn lại chặng đường đã qua, có thể khẳng định, những tiếng nói từ bản làng vùng cao đã và đang góp phần làm phong phú thêm đời sống nghị trường Quốc hội. Những phát biểu thẳng thắn, chân thành và trách nhiệm của các ĐBQH DTTS đã trở thành minh chứng sinh động cho tinh thần “Quốc hội của dân, do dân và vì dân”. Và chính từ những tiếng nói ấy, niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quốc hội tiếp tục được củng cố, tạo nên nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của đất nước trong chặng đường phía trước.
(còn nữa)
4 giờ trước
23 giờ trước
6 ngày trước
6 ngày trước
8 ngày trước
4 phút trước
25 phút trước
25 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
1 phút trước
3 phút trước
7 phút trước
7 phút trước
9 phút trước