Tiếng chèo ngày hội
Ngày xưa, cứ đến Rằm tháng Giêng là làng tôi rộn ràng như mở hội. Từ đầu làng đến cuối xóm, người người í ới rủ nhau đi xem chèo. Sân đình được quét dọn sạch sẽ, những chiếc đèn dầu treo cao, ánh sáng vàng vọt nhưng ấm áp. Lũ trẻ con chúng tôi háo hức từ chiều, chạy lon ton theo chân người lớn, tay cầm nắm bỏng ngô, mắt mở to chờ đợi. Khi tiếng trống chèo thùng… thùng… vang lên, cả không gian như nín thở.

Câu lạc bộ chèo Người cao tuổi tỉnh diễn xướng tại Công viên Nguyễn Văn Cừ (phường Võ Cường). Ảnh tư liệu.
Tiếng chèo ngày ấy không chỉ là một buổi diễn, mà là cả mùa xuân của làng. Trong làn khói hương bảng lảng, những tích truyện xưa được kể lại bằng giọng hát dân dã: Thị Mầu lẳng lơ, Xúy Vân giả dại, Thị Kính hiền lành, nhẫn nhịn. Người xem cười đó, rồi lại chép miệng thở dài đó, như thể chính mình đang sống trong câu chuyện. Chèo dạy người ta cách thương nhau, cách sống cho phải đạo, mà không cần lời giáo huấn khô khan.
Tôi còn nhớ rất rõ những đêm xuân se lạnh, ngồi nép bên bà, nghe bà thì thầm giải thích từng vai diễn. Bà bảo, xem chèo không chỉ để vui, mà để nhớ mình là ai, từ đâu mà ra. Tiếng hát chèo theo gió bay lên, hòa vào mùi đất ẩm, mùi rơm rạ, mùi hoa bưởi, tạo thành một thứ hương xuân rất riêng, rất Việt.
Thế rồi thời gian trôi. Làng quê đổi khác. Sân đình giờ im lìm, cỏ mọc lún phún nơi từng đặt chiếu chèo. Những đêm xuân nay sáng rực ánh đèn điện, nhưng lại thiếu vắng tiếng trống, tiếng phách. Người ta mải mê với tivi, điện thoại, những chương trình giải trí hiện đại. Chèo - thứ từng là linh hồn của ngày hội làng dần lùi vào quá khứ, như một người già lặng lẽ ngồi bên hiên, ít ai còn để ý lắng nghe.
Có lần, tôi về quê đúng dịp xuân, tình cờ nghe đâu đó vang lên một câu chèo cũ phát từ chiếc loa xã. Âm thanh méo mó, đứt quãng, nhưng đủ làm tim tôi khẽ rung. Tôi chợt nhận ra, đã lâu lắm rồi mình không được xem một buổi chèo đúng nghĩa. Không còn cảm giác ngồi chen chúc trên những băng ghế gỗ, không còn tiếng cười râm ran khi Thị Mầu lên chùa, không còn cả những lời bình phẩm rất đời của người xem phía sau.
Chèo bây giờ, nếu có, thường được đưa lên sân khấu lớn, ánh sáng rực rỡ, âm thanh hiện đại. Nhưng đâu đó, tôi vẫn thấy thiếu, thiếu cái không gian làng, thiếu hơi thở của đất, thiếu sự mộc mạc khiến chèo trở thành chèo. Có lẽ, chèo sinh ra để thuộc về sân đình, về những đêm xuân mưa bụi, về cộng đồng quây quần, chứ không phải chỉ để trình diễn.
Mỗi khi xuân về, nhìn hoa đào nở sớm rồi tàn nhanh, tôi lại nghĩ đến tiếng chèo. Những giá trị văn hóa xưa cũng mong manh như cánh đào ấy, nếu không được nâng niu gìn giữ, sẽ lặng lẽ rơi rụng lúc nào không hay. Thế hệ trẻ hôm nay có thể không còn kiên nhẫn ngồi xem một vở chèo dài, không hiểu hết những làn điệu cổ, nhưng liệu có ai trong số họ từng được nghe tiếng chèo giữa đêm xuân làng quê, để thấy lòng mình chùng xuống?
Tôi không dám trách. Cuộc sống đổi thay, con người phải đi nhanh hơn để theo kịp thời đại. Chỉ là, giữa nhịp sống hối hả ấy, tôi mong đâu đó vẫn còn một khoảng lặng cho tiếng chèo vang lên. Một đêm xuân nào đó, sân đình lại sáng đèn, trống chèo lại gióng giả, để những người con xa quê như tôi được tìm về ký ức, được ngồi lại với tuổi thơ, với bà, với làng xưa.
Tiếng chèo ngày xuân, suy cho cùng, không chỉ là âm thanh. Đó là ký ức tập thể, là hồn cốt văn hóa, là sợi dây nối những mùa xuân đã qua với hiện tại. Dẫu có xa vắng, dẫu có mai một, tôi vẫn tin, chỉ cần còn người nhớ, người thương, thì tiếng chèo vẫn sẽ âm thầm sống, như mạch nước ngầm dưới lòng đất, chờ một ngày xuân nào đó lại trỗi dậy, ngân vang.
Nhất Mạt Hương
1 giờ trước
45 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
6 giờ trước