🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thuế đang trở thành 'thước đo' trách nhiệm chuỗi cung ứng

1 giờ trước
Việc Mỹ áp thuế bổ sung 12,5% đối với phần lớn hàng hóa Việt Nam không chỉ là câu chuyện thuế quan, mà phản ánh xu hướng mới của thương mại toàn cầu, khi các tiêu chuẩn về lao động, môi trường và minh bạch chuỗi cung ứng ngày càng trở thành điều kiện để tiếp cận thị trường. Đây cũng là sức ép buộc Việt Nam phải hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng để duy trì vị thế trong thương mại quốc tế.

Đó là nhận định của PGS.TS Ngô Trí Long – Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam trong cuộc trao đổi với phóng viên Cơ quan Báo và Phát thanh, Truyền hình Hà Nội.

PGS.TS Ngô Trí Long – Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam. Ảnh: Văn Tuyến

Thuế không còn chỉ nhằm bảo hộ thương mại

- Thưa ông, việc Mỹ áp thuế bổ sung 12,5% đối với phần lớn hàng hóa Việt Nam được lý giải là liên quan đến cơ chế kiểm soát lao động cưỡng bức. Theo ông, đây có còn là một biện pháp thuế quan thuần túy, hay phản ánh sự thay đổi trong cách Mỹ định hình “luật chơi” thương mại toàn cầu?

- Quyết định này cho thấy thuế quan đang được Mỹ sử dụng không chỉ để bảo hộ sản xuất trong nước mà còn trở thành công cụ thúc đẩy các đối tác thay đổi thể chế, tiêu chuẩn lao động và quản trị chuỗi cung ứng.

Điều cần lưu ý là phía Mỹ không kết luận hàng hóa Việt Nam được sản xuất bằng lao động cưỡng bức, mà cho rằng Việt Nam chưa có cơ chế đầy đủ để ngăn chặn hàng hóa có yếu tố lao động cưỡng bức nhập khẩu vào thị trường trong nước. Đây cũng là lý do Việt Nam chịu mức thuế cao hơn nhóm quốc gia đã ban hành hoặc cam kết ban hành lệnh cấm nhập khẩu loại hàng hóa này.

Xu hướng này cho thấy thương mại quốc tế đang chuyển từ việc kiểm soát chất lượng hàng hóa sang kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp không chỉ phải chứng minh sản phẩm đạt tiêu chuẩn mà còn phải chứng minh nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện lao động và trách nhiệm xã hội trong toàn bộ quá trình sản xuất.

Đối với Việt Nam, đây không nên được nhìn nhận đơn thuần là vấn đề đàm phán giảm thuế, mà là yêu cầu nâng cấp thể chế, tăng cường truy xuất nguồn gốc và minh bạch chuỗi cung ứng để đáp ứng “luật chơi” mới của thương mại toàn cầu.

- Nếu vấn đề cốt lõi không nằm ở chất lượng hàng hóa mà ở khuôn khổ pháp lý và năng lực quản trị chuỗi cung ứng, Việt Nam đang thiếu những “mắt xích” nào cần sớm được hoàn thiện?

- Những năm qua, Việt Nam đã có hệ thống pháp luật khá đầy đủ về phòng, chống lao động cưỡng bức trong nước. Tuy nhiên, khoảng trống nằm ở cơ chế kiểm soát hàng hóa nhập khẩu có yếu tố lao động cưỡng bức.

Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2026/NĐ-CP bổ sung hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức vào danh mục cấm nhập khẩu là bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, đây mới là điều kiện cần. Điều quan trọng hơn là phải xây dựng được cơ chế thực thi hiệu quả tại cửa khẩu, từ quy trình điều tra, tạm dừng thông quan, xác minh nguồn gốc đến xử lý hàng hóa vi phạm.

Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, tăng cường chia sẻ dữ liệu, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc dựa trên mức độ rủi ro và công khai kết quả thực thi để tạo niềm tin với các đối tác quốc tế.

- Mức thuế bổ sung 12,5% được nhiều doanh nghiệp coi là một cú sốc. Theo ông, điều đáng lo nhất là chi phí tăng lên hay nguy cơ Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu?

- Đây là cú sốc đáng kể nhưng không có nghĩa xuất khẩu sẽ lập tức giảm tương ứng 12,5%. Mức độ tác động còn phụ thuộc vào từng ngành hàng, khả năng chia sẻ chi phí giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu cũng như sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Điều đáng lo hơn là áp lực sẽ xuất hiện ở các đơn hàng mới. Nhà nhập khẩu có thể yêu cầu giảm giá, cắt giảm đơn hàng hoặc chuyển sang nguồn cung khác nếu hàng hóa Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh về thuế. Tác động tới việc làm thường diễn ra theo độ trễ, bắt đầu từ giảm làm thêm giờ, giảm tuyển dụng rồi mới đến cắt giảm lao động nếu đơn hàng suy giảm kéo dài.

Các ngành chịu sức ép lớn nhất sẽ là dệt may, da giày, đồ gỗ, điện tử, máy móc và một số mặt hàng tiêu dùng phụ thuộc nhiều vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, rủi ro lớn nhất không nằm ở con số 12,5% mà ở việc Việt Nam có thể mất lợi thế tương đối so với các đối thủ đang chịu mức thuế thấp hơn.

Mỹ áp thuế bổ sung 12,5% đối với phần lớn hàng hóa Việt Nam. Ảnh: Đỗ Minh

Biến yêu cầu tuân thủ thành lợi thế cạnh tranh

- Không chỉ Mỹ mà nhiều thị trường lớn đều đang siết chặt các tiêu chuẩn về lao động, môi trường và truy xuất nguồn gốc. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam đang đứng trước áp lực tuân thủ hay áp lực phải tái cấu trúc mô hình sản xuất?

- Khó khăn lớn nhất không còn là đáp ứng thêm một vài tiêu chuẩn kỹ thuật, mà là phải thay đổi cách tổ chức sản xuất và quản trị chuỗi cung ứng. Các thị trường ngày càng yêu cầu doanh nghiệp chứng minh toàn bộ quá trình hình thành sản phẩm, từ nguồn nguyên liệu, điều kiện lao động đến mức phát thải và trách nhiệm môi trường.

Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn hạn chế về nguồn lực tài chính, nhân lực chuyên môn và hệ thống dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp mới quản lý được nhà cung cấp trực tiếp nhưng chưa kiểm soát được các tầng cung ứng phía sau, trong khi đây lại là yêu cầu bắt buộc của các thị trường lớn.

Chi phí đầu tư cho truy xuất nguồn gốc, kiểm toán xã hội, đánh giá phát thải hay xây dựng hệ thống dữ liệu là không nhỏ. Tuy nhiên, rủi ro lớn hơn là doanh nghiệp có thể bị loại khỏi chuỗi cung ứng ngay từ khâu đánh giá của khách hàng nếu không chứng minh được tính minh bạch của sản phẩm, dù chưa bị cơ quan quản lý nước ngoài xử lý.

- Trong bối cảnh các “hàng rào” phi thuế quan ngày càng dày đặc, doanh nghiệp cần bắt đầu từ đâu để không bị loại khỏi chuỗi cung ứng toàn cầu?

- Trước hết, doanh nghiệp phải thay đổi tư duy. ESG, truy xuất nguồn gốc hay trách nhiệm chuỗi cung ứng không còn là yêu cầu mang tính hình thức mà đã trở thành điều kiện để tiếp cận thị trường.

Doanh nghiệp cần xây dựng bản đồ chuỗi cung ứng, phân loại nhà cung cấp theo mức độ rủi ro, thiết lập quy trình thẩm định có bằng chứng thay vì chỉ dựa trên cam kết của đối tác. Đồng thời, phải chuẩn hóa hệ thống hồ sơ về nguyên liệu, lao động, môi trường, sản xuất để có thể chứng minh tính minh bạch khi được yêu cầu.

Đầu tư cho ESG vì thế cần được nhìn nhận là khoản đầu tư dài hạn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Những doanh nghiệp xây dựng được chuỗi cung ứng minh bạch sẽ có lợi thế trong tiếp cận khách hàng, thu hút đầu tư và giảm rủi ro trong hoạt động xuất khẩu.

- Theo ông, đâu là “lời giải” căn cơ để Việt Nam không chỉ vượt qua cú sốc thuế quan hiện nay mà còn nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu?

- Điều quan trọng nhất là không xem đây chỉ là vấn đề đàm phán thuế quan. Việt Nam cần coi đây là cơ hội hoàn thiện thể chế và nâng cấp năng lực quản trị chuỗi cung ứng quốc gia.

Trong ngắn hạn, cần nhanh chóng hoàn thiện cơ chế thực thi lệnh cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức; xây dựng quy trình kiểm tra dựa trên rủi ro, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý và chủ động đối thoại với phía Mỹ bằng các kết quả thực thi cụ thể.

Về lâu dài, cần phát triển hạ tầng truy xuất nguồn gốc quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, nâng cao năng lực tuân thủ và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Song song với đó là phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và giảm phụ thuộc vào các nguồn nguyên liệu khó kiểm soát.

Theo tôi, thông điệp quan trọng nhất là doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cần sản xuất hàng hóa “sạch”, mà phải chứng minh được điều đó bằng dữ liệu và cơ chế kiểm chứng minh bạch. Trong bối cảnh thương mại toàn cầu đang thay đổi, năng lực cạnh tranh sẽ không chỉ được quyết định bởi giá thành hay chất lượng sản phẩm, mà còn bởi khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về lao động, môi trường và trách nhiệm chuỗi cung ứng. Nếu tận dụng tốt quá trình chuyển đổi này, Việt Nam không chỉ có cơ sở để từng bước tháo gỡ các rào cản thương mại, mà còn nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Xin cảm ơn ông !

Phương Nga

TIN LIÊN QUAN















Home Icon VỀ TRANG CHỦ