🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thúc đẩy hệ sinh thái hợp tác: Lời giải cho bài toán tăng trưởng bền vững

1 giờ trước
Phát triển bền vững không còn là trách nhiệm xã hội hay nhiệm vụ riêng của bộ phận ESG, mà đã trở thành năng lực cạnh tranh cốt lõi và động lực tăng trưởng hàng đầu. Cuộc đua này đòi hỏi sự gắn kết chiến lược, đồng hành hành động giữa Doanh nghiệp – Địa phương – Nhà trường - Quốc gia...

Các diễn giả tham gia tọa đàm. Ảnh: VCCI.

Mới đây, tại Hưng Yên, Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam (VBCSD) thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Chương trình kết nối và chia sẻ về phát triển bền vững năm 2026 với chủ đề “Đồng hành kiến tạo tăng trưởng bền vững: Doanh nghiệp – Địa phương – Quốc gia”.

Phát biểu tại sự kiện, ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD nhấn mạnh sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển. Nếu như trước đây, phát triển bền vững thường bắt đầu từ các câu chuyện quản trị môi trường, trách nhiệm xã hội hay quản trị doanh nghiệp, thì ngày nay, bài toán then chốt là: Làm thế nào để phát triển bền vững trở thành năng lực cạnh tranh và động lực tăng trưởng thực chất?

Đây không còn là câu chuyện riêng của bộ phận ESG trong doanh nghiệp, mà là bài toán chiến lược của giới lãnh đạo, các nhà đầu tư, người lao động, chuỗi cung ứng, chính quyền địa phương và toàn bộ nền kinh tế. Doanh nghiệp hiện đại không chỉ dừng lại ở việc quản trị chi phí hay thị trường, mà buộc phải quản trị khả năng chống chịu trước biến động. Chuyển đổi xanh đã vượt khỏi quy mô một chương trình môi trường thuần túy để trở thành cuộc cạnh tranh toàn diện về công nghệ, nguồn vốn, năng lượng, thị trường và năng lực sản xuất.

HỆ SINH THÁI CHÍNH SÁCH MỚI

Theo ông Vinh, đáng mừng là Việt Nam đang bước vào giai đoạn mới với hệ thống chính sách định hướng ngày càng rõ nét. Nhìn tổng thể, các Nghị quyết lớn của Đảng ban hành gần đây đang tạo dựng một khung khổ chiến lược nhất quán cho giai đoạn phát triển mới: phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng thu hút đầu tư; đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hơn, thông minh hơn và có sức chống chịu cao hơn.

Ông Nguyễn Quang Vinh, Phó Chủ tịch VCCI, Chủ tịch VBCSD. Ảnh: Vũ Khuê.

Cụ thể, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là những động lực quyết định phát triển quốc gia. Nghị quyết đặt ra yêu cầu xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, phát triển nhân lực chất lượng cao và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội. Đây chính là điểm giao thoa quan trọng nhất giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững.

Đặc biệt, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đánh dấu bước chuyển dịch tư duy chiến lược quan trọng: Chuyển từ tư duy thu hút vốn thuần túy sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; chuyển từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang phát triển theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm tiêu chí đánh giá chủ đạo.

Thông điệp này đặt ra bài toán cạnh tranh mới cho cả doanh nghiệp và địa phương: "Ai có hệ sinh thái tốt hơn? Ai có nguồn nhân lực chất lượng hơn? Ai có hạ tầng tối ưu hơn? Ai có năng lực đổi mới sáng tạo cao hơn? Ai tạo ra nhiều giá trị gia tăng hơn? Và ai có khả năng đồng hành phát triển bền vững cùng doanh nghiệp trong dài hạn?"

Đánh giá cao Nghị quyết số 10-NQ/TW, ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam & Đồng Chủ tịch VBCSD chia sẻ, khác với tư duy đầu tư ngắn hạn tìm kiếm lợi nhuận thuần túy của một số doanh nghiệp trước đây, Nestlé chọn cách tiếp cận dựa trên cam kết dài hạn và giá trị chia sẻ giữa Chính phủ, người dân, cộng đồng và toàn bộ hệ sinh thái. Đây là con đường duy nhất để doanh nghiệp đạt được thành công bền vững.

Ông Binu Jacob, Tổng Giám đốc Nestlé Việt Nam & Đồng Chủ tịch VBCSD.  Ảnh: Vũ Khuê.

Khi đầu tư tại Hưng Yên, Nestlé coi địa phương là đối tác đồng hành chứ không chỉ là cơ quan quản lý. "Khi đầu tư dài hạn tại một tỉnh, đó không còn là rủi ro "5 ăn 5 thua'". Chúng tôi kỳ vọng vào một môi trường đầu tư ổn định, chính sách nhất quán, nơi hệ sinh thái đối tác cùng hưởng lợi từ hoạt động đầu tư thông qua chuyển giao công nghệ, chia sẻ bí quyết quản trị, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững", ông Binu Jacob khẳng định.

Bên cạnh đó, việc phát triển nguồn nhân lực tài năng tại địa phương là yếu tố sống còn. Đó là lý do Nestlé chủ động hợp tác sâu rộng với các cơ sở đào tạo tại chỗ, điển hình như Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên.

SỰ HỢP LỰC TỪ CÁC TRỤ CỘT

Để thực thi chiến lược phát triển bền vững, ông Nguyễn Quang Vinh đề xuất giải pháp phối hợp đồng bộ giữa các bên. Trong đó, doanh nghiệp tiên phong trong đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển nguồn nhân lực và đầu tư có trách nhiệm. Địa phương kiến tạo môi trường đầu tư minh bạch, hiệu quả, có tính dự báo cao; đồng thời hoàn thiện hệ sinh thái hạ tầng, nhân lực và đổi mới sáng tạo. Quốc gia tiếp tục hoàn thiện thể chế, tạo lập sân chơi bình đẳng, huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngoài ra, báo chí truyền thông làm cầu nối lan tỏa các chính sách, sáng kiến, mô hình tốt; đóng vai trò phản biện, kiểm chứng và thúc đẩy nhận thức xã hội.

Khi bốn lực lượng này cùng chuyển động đồng điệu, tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững sẽ không còn mâu thuẫn mà trở thành hai mặt hợp nhất của một mô hình phát triển hiện đại.

Đồng quan điểm, ông Binu Jacob cho rằng Việt Nam đang đứng trước giai đoạn phát triển mới đầy khát vọng với mục tiêu tăng trưởng hai con số và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Thách thức lớn nhất của thập kỷ này là đảm bảo tăng trưởng nhanh nhưng phải đi liền với tăng trưởng chất lượng. Thách thức đó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ: Chính phủ định hướng chiến lược; địa phương kiến tạo môi trường; doanh nghiệp thực thi hành động; và báo chí củng cố niềm tin, lan tỏa nhận thức xã hội.

Song hành cùng hạ tầng và công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao là lợi thế cạnh tranh cốt lõi. PGS.TS Bùi Trung Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên, nhấn mạnh vai trò của các trường đại học như một mắt xích trung tâm trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW).

PGS. TS Bùi Trung Thành, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên. Ảnh: Vũ Khuê.

Theo PGS.TS Bùi Trung Thành, các trường đại học chính là "thỏi nam châm" thu hút doanh nghiệp công nghệ cao. Không một quốc gia nào có thể phát triển khoa học công nghệ tiên tiến nếu sở hữu một nền giáo dục đại học yếu kém.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy đầu tư cho R&D (Nghiên cứu và Phát triển) của doanh nghiệp Việt Nam còn rất thấp (khoảng 0,1%), chưa tương xứng với mục tiêu phát triển công nghệ cao và gia tăng sáng chế. Các trường đại học thiếu "sân chơi" ứng dụng, trong khi doanh nghiệp chưa thực sự chủ động hợp tác R&D với nhà trường.

Để tối ưu hóa mối quan hệ hợp tác ba bên: Nhà trường – Doanh nghiệp – Chính quyền, PGS.TS Bùi Trung Thành cho rằng nhà trường chủ động đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ gắn với thực tiễn. Doanh nghiệp đồng hành sâu hơn vào quá trình đào tạo, tham gia đồng thiết kế chương trình và tăng cường đầu tư R&D. Chính phủ và địa phương đóng vai trò cầu nối, xây dựng cơ chế thể chế linh hoạt, tạo không gian hợp tác bình đẳng cùng có lợi (Win-Win) giữa nhà trường và doanh nghiệp.

TIN LIÊN QUAN
























Home Icon VỀ TRANG CHỦ