🔍
Chuyên mục: Tài chính

Thỏa thuận Mỹ-Iran chưa đủ để xoa dịu nỗi lo lạm phát toàn cầu

1 giờ trước
Các ngân hàng trung ương hàng đầu thế giới cảnh báo thỏa thuận hòa bình tạm thời giữa Mỹ và Iran chỉ giúp giảm bớt một phần áp lực đối với kinh tế toàn cầu.

(Ảnh minh họa: THX/TTXVN)

Các ngân hàng trung ương hàng đầu thế giới cảnh báo thỏa thuận hòa bình tạm thời giữa Mỹ và Iran chỉ giúp giảm bớt một phần áp lực đối với kinh tế toàn cầu, trong khi cuộc chiến chống lạm phát vẫn còn nhiều thách thức.

Dù Mỹ và Iran đã đạt được thỏa thuận sơ bộ nhằm chấm dứt xung đột, các nhà hoạch định chính sách tiền tệ cho rằng rủi ro lạm phát vẫn hiện hữu khi giá năng lượng hiện vẫn cao hơn thời điểm trước khi xung đột bùng phát và nhu cầu tại Mỹ tiếp tục tăng mạnh.

Thống đốc Ngân hàng Trung ương Vương quốc Anh (BoE) Andrew Bailey tuần này cảnh báo áp lực lạm phát vẫn đang "âm thầm tích tụ."

BoE giữ nguyên lãi suất ở mức 3,75% nhưng khẳng định sẵn sàng nâng lãi suất nếu giá cả tăng trở lại.

Trước cuộc họp, BoE được dự báo rộng rãi về quyết định giữ nguyên lãi suất, khi tỷ lệ thất nghiệp của Anh đã giảm trong ba tháng tính đến cuối tháng 4/2026.

Văn phòng Thống kê Quốc gia ngày 18/6 công bố số liệu cho thấy tỷ lệ thất nghiệp tại nước này đã giảm xuống 4,9%, so với mức 5% trong quý 1/2026.

Theo số liệu chính thức công bố một ngày trước đó, tỷ lệ lạm phát hàng năm của Anh vẫn ở mức 2,8% trong tháng 5/2026. Nền kinh tế Anh đã suy giảm nhẹ trong tháng 4/2026 do tác động của xung đột tại Trung Đông.

Nền kinh tế nước này giảm 0,1% trong tháng 4/2026, sau khi tăng 0,3% trong tháng 3/2026. Do giá năng lượng tăng cao trong bối cảnh xung đột, đà tăng trưởng mạnh mẽ của kinh tế Anh trong quý đầu tiên đã đảo ngược.

Tại Mỹ, tân Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Kevin Warsh cũng nhấn mạnh ưu tiên hàng đầu là đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%, làm dấy lên đồn đoán Fed có thể tăng lãi suất trong thời gian tới. Hiện lãi suất của Fed đang ở mức 3,5%-3,75%.

Theo các chuyên gia, thỏa thuận Mỹ-Iran đã giúp loại bỏ nguy cơ giá dầu tăng vọt do thiếu hụt nguồn cung nghiêm trọng. Sau khi thỏa thuận được công bố, giá dầu giảm về khoảng 76 USD/thùng nhờ kỳ vọng hoạt động vận chuyển qua eo biển Hormuz sẽ được cải thiện.

Tuy nhiên, những diễn biến mới cho thấy triển vọng ổn định của thị trường năng lượng vẫn chưa thực sự chắc chắn. Rạng sáng 19/6, Bộ Ngoại giao Thụy Sĩ thông báo cuộc đàm phán kỹ thuật giữa Mỹ và Iran dự kiến diễn ra cùng ngày tại khu nghỉ dưỡng Bürgenstock đã bị hủy bỏ.

Theo kế hoạch ban đầu, các quan chức và chuyên gia hai nước sẽ thảo luận các bước triển khai thỏa thuận hòa bình vừa đạt được.

Cuộc họp bị hủy trong bối cảnh giao tranh tái diễn giữa Israel (I-xra-en) và lực lượng Hezbollah do Iran hậu thuẫn tại Liban. Nhà Trắng cho biết Phó Tổng thống JD Vance sẽ không tham dự cuộc gặp như dự kiến do một số vấn đề liên quan đến vòng đàm phán tiếp theo chưa được giải quyết.

Trong khi đó, nhiều nguồn tin cho biết Iran đã chủ động hoãn tham gia đối thoại để phản đối các cuộc không kích mới của Israel.

Diễn biến này cho thấy dù Mỹ và Iran đã đạt được đồng thuận về một khuôn khổ hòa bình, tiến trình thực thi thỏa thuận vẫn có thể bị tác động bởi các yếu tố địa chính trị.

Điều đó đồng nghĩa nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng và áp lực lạm phát vẫn chưa thể được loại bỏ hoàn toàn.

Các nhà kinh tế cho rằng ngay cả khi lệnh ngừng bắn được duy trì, việc khôi phục hoàn toàn hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz và đưa sản lượng dầu khí trở lại mức trước chiến sự sẽ cần thêm thời gian.

Điều này có thể giữ giá năng lượng ở mức tương đối cao và tiếp tục gây sức ép lên lạm phát toàn cầu.

Ngoài dầu mỏ, cuộc xung đột còn đẩy giá nhiều loại hàng hóa khác như phân bón và kim loại tăng lên, làm gia tăng áp lực đối với chuỗi cung ứng. Một số chuyên gia dự báo giá lương thực có thể tăng trong những tháng cuối năm do thiếu hụt phân bón và tác động của hiện tượng thời tiết El Ninõ.

Tại Mỹ, lạm phát cơ bản vẫn là mối lo lớn của Fed. Chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) lõi, thước đo lạm phát được Fed đặc biệt theo dõi, đạt 3,3% trong tháng 4/2026 và được dự báo duy trì quanh mức này trong phần còn lại của năm, cao hơn đáng kể so với mục tiêu 2%.

Ông David Wilcox, cựu quan chức Fed và hiện là nghiên cứu viên cấp cao tại Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, cho rằng nếu Fed thực sự muốn đưa lạm phát về mục tiêu, khả năng cao cơ quan này sẽ phải tiếp tục nâng lãi suất. Theo ông, lạm phát đã duy trì trên mức 2% trong thời gian dài và không còn là vấn đề chỉ giới hạn ở giá năng lượng.

Không chỉ Fed và BoE, nhiều ngân hàng trung ương khác cũng duy trì lập trường thận trọng. Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA, ngân hàng trung ương) cảnh báo những vấn đề liên quan đến nguồn cung dầu toàn cầu sẽ cần thời gian để giải quyết, trong khi Ngân hàng trung ương Nhật Bản (BoJ) tiếp tục lộ trình bình thường hóa chính sách tiền tệ với việc nâng lãi suất lên 1%, mức cao nhất trong 31 năm.

Tuyên bố của BoJ nêu rõ lạm phát cơ bản có nguy cơ tăng vượt mục tiêu 2% do giá dầu thô tăng. Vì vậy, ngân hàng này sẽ tiếp tục nâng lãi suất chính sách để đáp ứng những diễn biến trong hoạt động kinh tế và giá cả cũng như các điều kiện tài chính.

BoJ lưu ý rằng rủi ro suy thoái kinh tế dường như đã giảm, một phần là nhờ nỗ lực của chính phủ nhằm đảm bảo các nguồn cung nguyên liệu thô thay thế nguồn cung từ Trung Đông.

Dù việc tăng lãi suất chính sách có thể làm chậm nền kinh tế vì chi phí vay của các công ty tăng lên, hạn chế đầu tư và làm giảm chi tiêu tư nhân, song BoJ nhận thấy cần ưu tiên ứng phó với rủi ro lạm phát.

Việc đồng yen liên tục giảm xuống vùng 160 yen/1 USD, bất chấp sự can thiệp vào thị trường tiền tệ từ cuối tháng 4 đến đầu tháng 5/2026, cũng làm dấy lên lo ngại về chi phí nhập khẩu tăng cao đối với Nhật Bản.

Trước đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng nâng lãi suất và cho rằng lạm phát trong năm nay vẫn có thể ở gần mức 3%, cao hơn mục tiêu đề ra.

Ngày 18/6 vừa qua, trong khuôn khổ Cuộc họp thường kỳ của Hội đồng Thống đốc (RDG), Ngân hàng trung ương Indonesia (BI) đã quyết định tiếp tục tăng lãi suất cơ bản (BI-Rate) thêm 25 điểm cơ bản, lên mức 5,75%.

Động thái này cho thấy sự thận trọng của cơ quan quản lý trước rủi ro suy yếu của đồng rupiah và hệ lụy từ lạm phát nhập khẩu. Việc điều chỉnh lãi suất diễn ra trong bối cảnh đồng nội tệ của Indonesia lao dốc mạnh, chạm ngưỡng 18.000 rupiah đổi 1 USD.

Chỉ trong vòng một tháng qua, BI đã phải can thiệp bằng 3 đợt tăng lãi suất với tổng mức tăng lên tới 100 điểm cơ bản.

Trước đó, BI-Rate đã được duy trì ở mức 4,75% kể từ tháng 9/2025, cho đến khi bị phá vỡ bởi quyết định nâng thêm 50 điểm cơ bản vào cuối tháng 5/2026 và 25 điểm cơ bản trong một cuộc họp đột xuất ngoài lịch trình vào ngày 9/6/2026./.

(TTXVN/Vietnam+)

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ