🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thiếu cơ chế giá và tài chính ổn định cho dự án điện rác?

1 giờ trước
Doanh nghiệp phản ánh, còn thiếu cơ chế giá và cơ chế tài chính ổn định cho dự án điện rác có thể khiến phương án tài chính của dự án nhanh chóng mất cân đối trong quá trình vận hành.

Cần gỡ vướng cho việc xử lý rác thải theo hình thức PPP

Tổng hợp khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn trong thực hiện các quy định về đầu tư hạ tầng thu gom, vận chuyển, tái chế, xử lý rác thải theo phương thức đối tác công tư (PPP), Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) nêu lên 7 vướng mắc lớn trong quá trình triển khai. Trong đó đáng chú ý là hiện còn thiếu cơ chế giá và cơ chế tài chính ổn định cho dự án điện rác.

Theo phản ánh của doanh nghiệp, hiệu quả tài chính của các dự án điện rác phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố chính, bao gồm giá bán điện và giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Tuy nhiên, trên thực tế, cơ chế giá đối với cả hai nguồn thu này hiện vẫn chưa ổn định và chưa có tính dài hạn, từ đó làm gia tăng rủi ro tài chính cho các dự án.

Đối với giá bán điện, cơ chế giá điện hỗ trợ (FIT) dành cho điện rác trước đây đã hết hiệu lực, trong khi đến nay vẫn chưa có cơ chế giá điện ổn định dài hạn thay thế. Trong bối cảnh đó, việc đàm phán giá điện với Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thường gặp nhiều khó khăn và tiềm ẩn rủi ro liên quan đến khả năng thay đổi chính sách giá điện trong tương lai.

Đối với giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt, hiện nay vẫn tồn tại sự chênh lệch đáng kể giữa mức giá thực tế cần thiết để vận hành dự án và mức giá được ngân sách nhà nước chi trả.

Trên thực tế, nhiều địa phương vẫn đang áp dụng khung giá được xây dựng trên cơ sở công nghệ chôn lấp truyền thống với chi phí tương đối thấp. Trong khi đó, công nghệ điện rác đòi hỏi chi phí đầu tư và chi phí vận hành cao hơn đáng kể do phải đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt về xử lý khí thải, nước rỉ rác và tro bay theo các tiêu chuẩn môi trường.

Bên cạnh đó, pháp luật hiện hành cũng chưa thiết lập cơ chế điều chỉnh giá dịch vụ xử lý rác theo biến động của các yếu tố chi phí đầu vào như lãi vay, tỷ giá, chi phí nhân công hoặc chi phí vận hành.

“Việc thiếu cơ chế điều chỉnh giá phù hợp với biến động chi phí trong suốt vòng đời dự án có thể khiến phương án tài chính của dự án nhanh chóng mất cân đối trong quá trình vận hành”- văn bản nêu.

Bên cạnh đó, hiện nay vẫn thiếu cơ chế bảo đảm khối lượng rác đầu vào và chia sẻ rủi ro đặc thù của dự án điện rác. Các dự án điện rác có đặc điểm là vốn đầu tư lớn, sử dụng công nghệ nhập khẩu hiện đại, thời gian hoàn vốn dài (thường từ 20–25 năm) và phụ thuộc trực tiếp vào khối lượng rác đầu vào.

Khối lượng rác và thành phần rác không chỉ quyết định sản lượng điện phát ra mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tài chính của dự án. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) và các pháp luật có liên quan vẫn chưa có cơ chế phù hợp để cơ quan nhà nước có thể đưa ra các cam kết cần thiết nhằm bảo đảm tính khả thi tài chính của các dự án này.

Một số dự án PPP tiêu biểu khác lại bị hủy bỏ kết quả lựa chọn nhà đầu tư sau thời gian dài đàm phán. Chẳng hạn, việc hủy thầu sau khoảng 2 năm đàm phán tại tỉnh An Giang hay sự chậm trễ của các dự án tại Sầm Sơn hay Bỉm Sơn cũng cho thấy những dấu hiệu tương tự, khi nhà đầu tư gặp khó khăn trong việc hiện thực hóa các cam kết tài chính trong bối cảnh chính sách có nhiều thay đổi.

Do đó, VCCI kiến nghị Bộ Tài chính xem xét, gỡ vướng cho các vấn đề doanh nghiệp nêu nhằm thu hút đầu tư vào lĩnh vực này.

V.H

TIN LIÊN QUAN
































Home Icon VỀ TRANG CHỦ