Thị trường Halal hơn 10.000 tỷ USD, Việt Nam còn đứng ngoài đến bao giờ?
Một thị trường có quy mô lớn hơn GDP của Đức và Nhật cộng lại đang mở ra trước mắt, nhưng Việt Nam vẫn chưa thực sự bước vào cuộc chơi. Câu hỏi đặt ra lúc này không còn là “có nên tham gia hay không”, mà là “chúng ta còn chờ gì?”
Vượt xa khái niệm thực phẩm
Trong nhận thức phổ biến, Halal thường được hiểu đơn giản là thực phẩm đáp ứng quy định của Hồi giáo. Nhưng cách hiểu này đã lỗi thời so với thực tế phát triển của kinh tế Halal toàn cầu.
Như PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh, thực phẩm Halal chỉ là “cánh cửa đầu tiên” để nhận diện một hệ thống tiêu chuẩn gắn với niềm tin tôn giáo, chuẩn mực đạo đức, chất lượng và an toàn. Quan trọng hơn, cần mở rộng nhận thức từ “thực phẩm Halal” sang “kinh tế Halal”. Đằng sau đó là một hệ sinh thái kinh tế bao trùm nhiều lĩnh vực: thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, du lịch, logistics, tài chính, thương mại điện tử và dịch vụ chứng nhận.
Quy mô của hệ sinh thái này đã đạt 7.700 tỷ USD vào năm 2025 và dự kiến vượt 10.500 tỷ USD vào năm 2030, với tốc độ tăng trưởng ổn định 6-7% mỗi năm. Đây không phải là một xu hướng ngắn hạn, mà là một cấu trúc thị trường có nền tảng dân số gần 2 tỷ người, tập trung tại 57 quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo (OIC).

Các diễn giả tại Hội thảo “Kinh tế Halal – Động lực của phát triển bền vững”.
Đáng chú ý, động lực tăng trưởng của Halal không còn giới hạn trong cộng đồng Hồi giáo. Ngày càng nhiều người tiêu dùng toàn cầu lựa chọn sản phẩm Halal như một tiêu chuẩn về chất lượng, minh bạch và trách nhiệm trong sản xuất.
Như Đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ Korhan Kemik lý giải, các tiêu chuẩn Halal gắn chặt với yêu cầu truy xuất nguồn gốc đầy đủ, bảo đảm vệ sinh và tính toàn vẹn trong toàn bộ chuỗi sản xuất, đồng thời phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững.
Nói cách khác, Halal đang chuyển từ một tiêu chí tôn giáo thành một chuẩn mực chất lượng và sản xuất có trách nhiệm.
Nếu cần một minh chứng rõ ràng cho cơ hội của thị trường Halal, Indonesia là ví dụ tiêu biểu.
Ông Adam M. Tugio, Đại sứ Cộng hòa Indonesia tại Việt Nam, cho biết kinh tế Halal hiện không còn là một thị trường ngách mà đã trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng, với quy mô hàng nghìn tỷ USD và tốc độ mở rộng nhanh chóng trong những năm tới.
Đại sứ công bố con số Indonesia hiện chiếm hơn 11% thị trường Halal toàn cầu và xuất khẩu hơn 42 tỷ USD thực phẩm Halal chỉ riêng năm 2023. Thành công này không đến từ lợi thế tự nhiên, mà từ một chiến lược quốc gia nhất quán: xây dựng hệ thống chứng nhận, tiêu chuẩn hóa chuỗi cung ứng và phát triển thương hiệu Halal ở quy mô toàn cầu.
Thổ Nhĩ Kỳ cũng cho thấy một con đường tương tự. Từ một nước không thuộc vùng lõi văn hóa Hồi giáo Trung Đông, Thổ Nhĩ Kỳ đã định vị thành công như một trung tâm xuất khẩu và chứng nhận Halal, đặc biệt trong lĩnh vực thực phẩm chế biến, du lịch và dịch vụ.
Bài học từ hai quốc gia này không phải là "cần có đa số dân số Hồi giáo mới làm được Halal". Bài học là cần có chiến lược quốc gia đủ nghiêm túc, hệ thống chứng nhận đủ tin cậy và doanh nghiệp đủ năng lực thì bất kỳ quốc gia nào cũng có thể trở thành nhà cung cấp Halal.
Việt Nam có lợi thế, nhưng chưa có “cách chơi”
Nhìn từ phía lợi thế, Việt Nam có nền tảng khởi đầu khá rõ. Việt Nam là quốc gia xuất khẩu hàng đầu về gạo, cà phê, tôm, cá tra, hạt điều, rau quả nhiệt đới. Tất cả đều là những mặt hàng có nhu cầu Halal cao tại thị trường OIC. Ngành du lịch với cảnh quan phong phú, ẩm thực đa dạng và chi phí cạnh tranh hoàn toàn có thể phát triển phân khúc du lịch Halal đang tăng trưởng mạnh toàn cầu.
Về chính sách, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 10/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030. Trung tâm Chứng nhận Halal Quốc gia (HALCERT) được thành lập. Bộ tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về Halal đã được ban hành. Tầm nhìn "đưa Việt Nam thành mắt xích trọng yếu trong chuỗi cung ứng Halal toàn cầu" đã được đặt ra ở cấp chính sách cao nhất.
Nhưng khoảng cách giữa chính sách và thực tế vẫn còn rộng. PGS.TS. Nguyễn Xuân Trung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi chỉ ra những điều kiện tiên quyết mà Việt Nam vẫn cần tiếp tục hoàn thiện.
Đó là một sản phẩm Halal không chỉ cần đáp ứng yêu cầu “được phép” mà còn phải bảo đảm “tốt và sạch," từ khâu nguyên liệu, chế biến đến phân phối. Điều này đồng nghĩa với việc toàn bộ chuỗi cung ứng phải tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt, có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm soát và chứng nhận đầy đủ. Bên cạnh đó, yếu tố đạo đức cũng được đặt ra, như không gian lận trong sản xuất, bảo đảm điều kiện sản xuất phù hợp và tôn trọng các nguyên tắc chung trong kinh doanh cũng được đặt ra.

Kinh tế Halal là động lực chiến lược để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Rào cản kỹ thuật cũng không nhỏ. Đại sứ Kemik chỉ ra rằng sự khác biệt về tiêu chuẩn và chứng nhận giữa các quốc gia vẫn là một rào cản thương mại lớn. Điều này có nghĩa là chứng nhận Halal của Việt Nam phải được các thị trường nhập khẩu trọng điểm thừa nhận, điều chưa hoàn toàn đạt được.
Nói cách khác, Việt Nam có sản phẩm, nhưng chưa có “hộ chiếu” để sản phẩm đó đi xa.
Halal không chỉ là thương mại
Có một điều quan trọng của kinh tế Halal mà các phân tích thuần túy thương mại thường bỏ qua, nhưng lại được PGS.TS. Nguyễn Mạnh Hùng đặt vào trung tâm của lập luận: Halal là cầu nối văn hóa và địa chính trị.
Tham gia thị trường Halal không chỉ đòi hỏi doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, mà còn yêu cầu hiểu biết, tôn trọng và kết nối thực sự với các cộng đồng Hồi giáo. Điều này, khi được thực hiện đúng cách, tạo ra một loại tài sản vô hình không thể mua bằng tiền, đó là “lòng tin”. Và trong kinh doanh quốc tế, lòng tin là nền tảng của các hợp đồng dài hạn.
Nhìn từ góc độ chiến lược đối ngoại, 57 quốc gia OIC là một khối địa chính trị - kinh tế khổng lồ trải dài từ Đông Nam Á đến Trung Đông, châu Phi và Trung Á. Tham gia sâu vào chuỗi cung ứng Halal là cách Việt Nam đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa quan hệ đối tác chiến lược và tăng cường ảnh hưởng địa kinh tế, một mũi tên trúng nhiều đích trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ.
GS.TS. Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, đặt kinh tế Halal trong bức tranh đó, khi xung đột địa chính trị và đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu đặt ra câu hỏi về tự chủ kinh tế, kinh tế Halal nổi lên như một hướng đa dạng hóa chiến lược, vừa tìm kiếm thị trường mới, vừa giảm phụ thuộc vào các trục thương mại truyền thống.
Vấn đề của Việt Nam hiện nay không phải là thiếu tiềm năng, mà là thiếu tốc độ chuyển hóa tiềm năng thành năng lực cạnh tranh.
Ba việc cần làm ngay đã được Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Xuân Trung chỉ ra là đẩy nhanh công nhận quốc tế đối với chứng nhận Halal, nâng cấp năng lực doanh nghiệp theo toàn chuỗi giá trị và tập trung nguồn lực vào các ngành có lợi thế như nông sản, thủy sản, du lịch và dược phẩm
Trong khi đó, các quốc gia khác đã đi trước và đang tăng tốc. Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, thậm chí Trung Quốc đều đang mở rộng thị phần Halal.
Thị trường 10.500 tỷ USD không chờ đợi bất kỳ ai.
Và với Việt Nam, cơ hội không còn nằm ở việc “nhận ra tiềm năng”, mà ở việc có dám bước vào cuộc chơi hay tiếp tục đứng ngoài quan sát.
Hồng Hương
7 giờ trước
3 ngày trước
6 ngày trước
8 ngày trước
9 ngày trước
14 ngày trước
15 ngày trước
15 ngày trước
15 ngày trước
15 ngày trước
18 ngày trước
19 ngày trước
39 phút trước
1 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
8 phút trước
13 phút trước
14 phút trước