Mã vạch ra đời như thế nào?

George Laurer - người góp công lớn trong phát minh mã vạch.
Từ đó đến nay, những vạch đứng này trở nên phổ biến, được sử dụng ở khắp mọi nơi, từ cửa hàng tạp hóa và bán lẻ đến bệnh viện, cả tàu thám hiểm sao Hỏa.
Qua những chặng đường
Vào ngày 26/6/1974, một nhân viên thu ngân tại Siêu thị Marsh ở Troy (Ohio, Mỹ) trở thành người đầu tiên quét mã vạch mặt hàng tạp hóa - một gói kẹo cao su Wrigley’s Juicy Fruit - bằng mã UPC, được biết đến rộng rãi hơn với tên gọi mã vạch.
Sự đổi mới này xuất phát từ việc giải quyết các quy trình thủ công, tốn thời gian, vốn là vấn đề nan giải tại các cửa hàng tạp hóa, nhưng nó đã vượt xa mục đích ban đầu, không chỉ thay đổi cách mọi người mua sắm, mà còn cả cách họ chia sẻ thông tin.
Tuy nhiên, đó không phải là nỗ lực đầu tiên nhằm giúp người mua sắm thanh toán nhanh chóng hơn. Vào năm 1949, Norman Joseph Woodland và Bernard Silver nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho một “thiết bị và phương pháp phân loại”. Được biết đến với tên gọi “mã hình bia ngắm”, (bull’s-eye code), phát minh của họ có các vòng tròn đồng tâm.
Một ngày nọ, khi đang nghịch cát trên bãi biển, Woodland nhận ra những đường kẻ với độ rộng khác nhau có thể biểu thị dữ liệu theo cách tương tự như các dấu gạch ngang và dấu chấm trong mã Morse. Mặc dù, đó là một ý tưởng tuyệt vời, nhưng nó đòi hỏi một bóng đèn 500 watts và ống đặc biệt để chuyển đổi ánh sáng thành mã, vấn đề không đơn giản.
Ngoài ra, còn có hệ thống KarTrak ra mắt năm 1967 nhằm giúp xác định và theo dõi hàng hóa trên tàu hỏa. Hệ thống này sử dụng mã vạch màu có thể được quét để xác định tàu hỏa và hàng hóa của chúng khi đang di chuyển.
Tuy nhiên, KarTrak cuối cùng đã thất bại do một loạt yếu tố, bao gồm việc thiếu tích hợp với hệ thống máy tính, và thực tế là tuyết hoặc bùn có thể che khuất mã và dẫn đến các kết quả đọc sai.
Hai năm sau, Công ty IBM tìm cách mở rộng kinh doanh sang các lĩnh vực mới bằng cách mua lại các công ty khởi nghiệp. Tuy nhiên, theo Paul V. McEnroe, lúc đó là nhân viên của IBM, lao động ở những công ty nhỏ này thường nghỉ việc vì họ không muốn làm cho một doanh nghiệp quá cứng nhắc.
Vì vậy, IBM quyết định tìm kiếm giải pháp từ chính nội bộ công ty, chiêu mộ người có thể “làm việc mà không cần sự giám sát quá mức có thể làm hỏng dự án, cũng không cần phải đạt được một mức lợi nhuận nhất định trong năm đầu tiên”.
Vừa tốt nghiệp ngành Kinh doanh tại Đại học Stanford và làm việc tại Thung lũng Silicon, McEnroe rất háo hức với đề nghị này. Có chín năm kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực quét mã vạch, McEnroe cùng với chuyên gia tiếp thị Sarkis Zartarian và kỹ sư Mort Powell, đưa ra một đề xuất để IBM tham gia vào ngành công nghiệp thiết bị bán hàng.
Sau khi có được nguồn vốn, McEnroe tập hợp một nhóm trong nội bộ công ty mang tên “Consumer Transaction Systems” – tạm hiểu là nhóm phụ trách các “hệ thống xử lý giao dịch với người tiêu dùng”. Nhóm này quy tụ nhiều kỹ sư giàu kinh nghiệm, dù phần lớn trong số họ trước đó chưa từng làm việc với các thiết bị bán hàng.
George Laurer, người đóng vai trò quan trọng trong phát minh mã vạch, cho biết ban đầu nhóm nỗ lực phát triển mã vạch hình bia ngắm, nhưng ông biết sẽ không hiệu quả. Thay vào đó, ông thúc đẩy việc sử dụng các vạch thẳng và một chữ X trên cửa sổ quét. “Với một chữ X đơn giản, các vạch thẳng có thể được đọc bất kể chúng được định hướng như thế nào trong cửa sổ quét”, ông nói.

Mã vạch hiện phổ biến khắp nơi.
Không ngừng phát triển
Năm 1970, Hiệp hội Chuỗi cửa hàng thực phẩm quốc gia (National Association of Food Chains - NAFC) thành lập một ủy ban để xác định xem việc nhận dạng mặt hàng có khả thi hay không. Nhóm của IBM đã đệ trình thiết kế phiên bản mã UPC của họ khi ủy ban yêu cầu vào năm 1972.
Có 7 phương án lọt vào vòng chung kết, bao gồm cả đoạn mã mà Woodland và Silver nghĩ ra trên một bãi biển nhiều thập niên trước. Tập đoàn Radio Corporation of America (RCA) sở hữu bằng sáng chế này vào thời điểm đó đã đề xuất sử dụng đoạn mã bull’s-eye. Trong khi ủy ban tiếp tục thảo luận, nhóm IBM tiếp tục cải tiến thiết kế để làm cho mã UPC chính xác hơn và ủy ban đã xem xét chấp thuận phát minh này.
Nhóm nghiên cứu của IBM đã tạo ra phần cứng và phần mềm giúp cho mã vạch trở nên khả thi. Tuy nhiên, khi triển khai công nghệ này, họ gặp phải một vài thách thức. Nhóm phải thuê một công ty để chứng minh máy quét laser sẽ không gây hại cho con người. Tuy nhiên, một số người lo ngại mã vạch UPC sẽ dẫn đến mất việc làm, đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối.
Cuối cùng, sự phản đối mã vạch cũng lắng xuống và ngày càng nhiều cửa hàng tạp hóa bắt đầu áp dụng công nghệ này. Đến năm 1989, mã vạch được sử dụng trong hơn nửa tổng số giao dịch bán hàng tạp hóa tại Mỹ.
McEnroe gọi việc phát minh ra mã UPC là nỗ lực của cả một nhóm, ông lập luận rằng nếu có bất kỳ cá nhân nào xứng đáng được ghi nhận, thì đó là George Laurer, người đã được vinh danh vào Đại sảnh Danh vọng Sáng tạo Kỹ thuật nhờ phát minh của mình.
Mặc dù, McEnroe và nhóm của ông không thể hình dung được mã vạch sẽ trở nên phổ biến đến mức nào, ông cho rằng, việc không ai làm giàu nhờ bằng sáng chế mã vạch là một điều tích cực. Để gửi mã này cho NAFC, mọi thực thể đều phải đồng ý từ bỏ quyền sở hữu.
Theo History
Lê Du
33 phút trước
6 giờ trước
3 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
5 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước