🔍
Chuyên mục: Văn hóa

Theo màu cờ Tổ quốc từ Pác Bó - Tân Trào - Ba Đình đến kỷ nguyên mới (Bài 2)

40 phút trước
Bài 2: Màu cờ trong lòng dân - Đồng bào các dân tộc theo “Ông Ké” làm cách mạng

Sau Hội nghị Trung ương lần thứ tám tại Pác Bó (5/1941), cờ đỏ sao vàng được lựa chọn làm cờ Mặt trận Việt Minh, mang sứ mệnh hiệu triệu nhân dân đứng lên đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc. Những năm đó, không mạng xã hội, không thiết bị kết nối, nhưng từ Pác Bó, Cao Bằng thông điệp cứu nước “phủ sóng” khắp bản làng. Bởi “Ông Ké” - lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc căn dặn cán bộ cách mạng “bí mật với quân địch, không bí mật với nhân dân”. Từ gần dân, tin yêu dân, tuyên truyền giác ngộ cách mạng nên đồng bào các dân tộc Cao Bằng tin theo Việt Minh, “Ông Ké” tham gia các tổ chức cứu quốc; người góp gạo, người chuyển thư, phụ nữ lo hậu cần, thanh niên làm tự vệ, thiếu nhi canh gác, làm liên lạc... Trong vòng tay nhân dân, màu cờ đỏ sao vàng của Việt Minh trở thành biểu tượng của độc lập, tự do.

Khi thông điệp độc lập “phủ sóng” bản làng

Đứng trước tấm bản đồ phong trào Việt Minh từ châu Hà Quảng phát triển sang Hòa An, Nguyên Bình, rồi mở rộng đến Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang,… tại Nhà trưng bày, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, em Hoàng Thùy Dung, sinh viên năm 3, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, chăm chú nghe chị Đoàn Mai Hiên, hướng dẫn viên Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó thuyết minh.

“Thế hệ chúng em quen với việc một thông điệp được lan truyền bằng nút chia sẻ. Nhưng hơn 85 năm trước, không internet, không thiết bị kết nối, “Ông Ké” - lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và cán bộ cách mạng vẫn đưa thông điệp độc lập ‘phủ sóng’ khắp bản làng. Càng nghe, em càng cảm phục, kính yêu lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và những người làm cách mạng năm xưa”, Dung chia sẻ.

Ngày ấy, thực dân Pháp và tay sai truy lùng gắt gao; phần đông đồng bào chưa biết chữ, không thạo tiếng phổ thông; các bản nằm cách xa nhau qua nhiều triền núi, cánh rừng. Vì sao đường lối cứu nước vẫn lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng Tày, Nùng, Mông, Dao? 

Theo chị Hiên, trước hết bởi thông điệp độc lập nói đúng nỗi khổ và khát vọng của nhân dân. “Ông Ké” - căn dặn cán bộ thực hiện phương châm: “Hoạt động cách mạng bí mật với quân địch, nhưng không bí mật với nhân dân”. Giữ bí mật không có nghĩa là xa dân. Cán bộ phải gần dân, tin dân, giúp đồng bào hiểu rằng khi già, trẻ, gái, trai, không phân biệt dân tộc, tầng lớp cùng đoàn kết sẽ tạo thành sức mạnh đánh đổ ách thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do.

“Ông Ké” mặc quần áo chàm, tìm hiểu đời sống, phong tục và học nói tiếng đồng bào. Đội ngũ cán bộ biết tiếng dân tộc trực tiếp tuyên truyền bằng ngôn ngữ của bà con, bắt đầu từ những câu chuyện như: đói nghèo, sưu thuế, bắt phu, bắt lính và quyền được học hành.

Bữa cơm đầu tiên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại gia đình ông Lý Quốc Súng, gần hang Cốc Bó, xã Trường Hà (Tranh trưng bày tại Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó, xã Trường Hà).

Câu chuyện 2 chị em Hoàng Thị Hoa, Hoàng Thị Khìn vượt rừng đưa cơm cho “Ông Ké” tại hang Cốc Bó là một minh chứng. Gặp 2 cháu nhỏ, “Ông Ké” trò chuyện bằng tiếng Nùng, ân cần hỏi thăm cuộc sống của đồng bào. Từ những nỗi khổ hằng ngày, “Ông Ké” giảng giải giúp 2 chị em hiểu nguyên nhân khiến dân mất tự do, làm lụng quanh năm vẫn đói nghèo, nhiều gia đình phải ly tán.

Khi 2 chị em hỏi làm thế nào để hết cực khổ? “Ông Ké” giải thích: nếu người Tày, Nùng, Mông, Dao… tất cả cùng đoàn kết, học chữ và tham gia cách mạng thì sẽ tạo nên sức mạnh đánh đuổi kẻ áp bức. Trở về nhà, 2 chị em kể lại với cha. Nhận thấy điều “Ông Ké” nói chính là mong ước của dân bản, người cha đồng tình, động viên các con vận động bà con góp sức làm cách mạng.

Thông điệp độc lập còn lan nhanh nhờ phương thức tuyên truyền “người thật - việc thật - niềm tin thật”. Đồng chí Võ Nguyên Giáp và cán bộ cách mạng vượt núi đến từng bản làng, người uy tín được giác ngộ rồi vận động gia đình, dòng họ, hàng xóm. Đồng chí Võ Nguyên Giáp kết nghĩa anh em với ông Dương Kim Đao, dân tộc Mông… vừa mở lớp đào tạo cán bộ vừa dạy chữ. Người biết chữ đọc tài liệu cho người chưa biết chữ. Mỗi hội viên sau khi hiểu Chương trình, Điều lệ Việt Minh lại trở thành một “người truyền tin”, tiếp tục kết nối quần chúng vào các hội cứu quốc.

Nhờ cách làm gần dân ấy, phong trào Việt Minh từ Pác Bó lan đến các tổng, vùng Lục Khu, Nà Sác, rộng khắp châu Hà Quảng, rồi phát triển sang Hòa An, Nguyên Bình và nhiều địa phương. Từ những điểm nhỏ lẻ, các cơ sở liên kết thành mạng lưới cách mạng ngày càng rộng lớn.

Từ câu chuyện chị Hiên kể và chỉ hướng phong trào Việt Minh tỏa đi những tuyến trên bản đồ. Thùy Dung xúc động nói: “em hiểu cờ đỏ sao vàng của Mặt trận Việt Minh trở thành “tín hiệu chung” bởi phía sau lá cờ là đường lối đúng, cách tuyên truyền gần dân và khát vọng tự giải phóng của nhân dân”. 

Với Dung, chuyến về nguồn không chỉ để “check-in”, mà còn là một lần “chạm” vào hành trình “Ông Ké” đưa đường lối của Đảng vào lòng dân, biến Pác Bó thành nơi khởi nguồn sức mạnh cách mạng.

Già, trẻ, gái, trai - cả bản làng thành những “lá chắn cách mạng”

Khi đường lối cứu nước đi vào lòng dân, các tổ chức cách mạng nhanh chóng bén rễ trong từng bản làng. Nông dân tham gia Hội Nông dân cứu quốc; phụ nữ vào Phụ nữ cứu quốc; thanh niên có Thanh niên cứu quốc; người cao tuổi tham gia Phụ lão cứu quốc; trẻ em được tập hợp vào Nhi đồng cứu quốc. Dưới cờ đỏ sao vàng của Mặt trận Việt Minh, mỗi người một nhiệm vụ, không ai đứng ngoài hành trình giành lại độc lập.

Đàm Ánh Tuyết, sinh viên năm 2, Trường Đại học Ngoại ngữ, Hà Nội, ấn tượng về khắp bản làng đều bảo vệ “Ông Ké” và cán bộ cách mạng. Không có phương tiện liên lạc hiện đại, nhưng mạng lưới được tổ chức bí mật, chặt chẽ. Người ở đầu bản theo dõi người lạ; người thông thạo đường rừng đưa đón cán bộ; gia đình cơ sở chuẩn bị nơi ăn, nghỉ; phụ nữ tiếp tế, chuyển thư; thanh niên làm tự vệ…

“Ngày nay, chúng em chỉ cần chạm vào màn hình là có thể gửi thông tin đi rất xa. Nhưng năm xưa, một lời cảnh báo phải qua nhiều người, nhiều bản mới đến được cán bộ. Chỉ một mắt xích sơ xuất, cả cơ sở có thể gặp nguy hiểm. Vậy mà đồng bào vẫn đoàn kết, kiên định bảo vệ cách mạng”, Tuyết chia sẻ.

Có lần, thực dân Pháp bắt được người của ta, nghi ngờ giấy căn cước rồi ráo riết lần theo dấu vết về châu Hà Quảng. Các cơ sở cách mạng từ khu vực Đôn Chương nhanh chóng truyền tin về Pác Bó. Nhờ cảnh báo kịp thời, “Ông Ké” và cán bộ xóa dấu vết, rời hang Cốc Bó đến địa điểm an toàn trước khi địch ập tới.

“Mạng lưới” ấy hoạt động bằng sự cảnh giác, mưu trí và lòng trung thành. Một dấu chân lạ, tiếng chó sủa bất thường hay bóng người xuất hiện ở đầu bản đều được chú ý. Một tiếng chim, ám hiệu hoặc lời nhắn chuyển đúng lúc có thể bảo vệ cán bộ, tài liệu và cả một cuộc họp quan trọng.

Chương trình đồng diễn nghệ thuật và nghi thức Đội của thiếu nhi Cao Bằng tại Km0, Khu di tích Quốc gia đặc biệt Pác Bó nhân kỷ niệm 85 năm Ngày thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (15/5/1941 - 15/5/2026).

Sức mạnh của thế trận lòng dân được thể hiện rõ trong thời gian Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng diễn ra tại Pác Bó từ ngày 10 - 19/5/1941. Giữa lúc thực dân Pháp và tay sai khủng bố, lùng sục gắt gao, các tổ chức Đảng, cơ sở cách mạng cùng nhân dân Hà Quảng âm thầm đưa đón đại biểu, chuẩn bị hậu cần, canh gác các tuyến đường, bảo đảm an toàn cho hội nghị.

Gần 10 ngày hội nghị diễn ra cũng là từng ấy ngày các “mắt xích” hoạt động trong trạng thái cảnh giác cao. Niềm tin vào Đảng và “Ông Ké” đã biến những con người bình dị thành lực lượng bảo vệ rộng khắp. Trong lực lượng ấy có cả những “chiến sĩ” nhỏ tuổi. Ngày 15/5/1941, tại Pò Đoi, dưới chân núi Thoong Mạ, làng Nà Mạ, Đội Nhi đồng cứu quốc được thành lập, gồm: Nông Văn Dền, Nông Văn Thàn, Lý Văn Tịnh, Lý Thị Xậu và Lý Thị Nì. Nông Văn Dền mang bí danh Kim Đồng, được giao làm Đội trưởng. Các đội viên làm nhiệm vụ liên lạc, đưa đón, bảo vệ cán bộ và canh gác những cuộc họp bí mật.

Rạng sáng 15/2/1943, phát hiện địch lùng sục, uy hiếp cuộc họp của cán bộ cách mạng, Kim Đồng chủ động đánh lạc hướng, phát tín hiệu để cán bộ rút lui an toàn. Người Đội trưởng anh dũng hy sinh khi mới 14 tuổi.

Nếu diễn đạt bằng ngôn ngữ Gen Z, mỗi người dân năm ấy là một “điểm kết nối”, mỗi gia đình cơ sở là một “trạm tiếp sức”, mỗi bản làng trở thành một “tường lửa” bảo vệ cách mạng. Những “lá chắn” ấy không phải ai cũng được ghi tên trong sử sách, nhưng chính họ đã bảo vệ “Ông Ké”, cán bộ và tổ chức Đảng. Từ lời cảnh báo, lá thư, phiên gác đến dấu chân vượt rừng, lòng dân đã dựng nên thành trì vững chắc nhất của cách mạng.

 PGS.TS Lê Văn Yên, Ủy viên chuyên trách Hội đồng Biên tập, Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật: Ngay sau khi trở về Tổ quốc ngày 28/1/1941, từ tháng 2 - 4/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo thí điểm phong trào Việt Minh từ Pác Bó đến các châu có khoảng 2.000 người là dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông… tham gia các hội cứu quốc. Tháng 5/1941, Người triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ Tám đã hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh. Dưới cờ đỏ sao vàng của Mặt trận Việt Minh tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển phong trào Việt Minh rộng khắp các châu Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình (1941 - 1943) và phát triển về xuôi. Đó là minh chứng sinh động cho sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, biến ý chí cách mạng thành sức mạnh của nhân dân.

Bài 3: Báo Việt Nam Độc lập - Từ “đường truyền” cách mạng đến bản lĩnh Gen Z

Trường Hà

TIN LIÊN QUAN




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ