Thể thao – từ tiềm năng đến ngành kinh tế có thể đo lường

Giá trị toàn ngành thể thao Việt Nam ước tính đạt khoảng 1,5-2,5 tỉ đô la Mỹ. Ảnh minh họa: Lê Vũ.
Một ngành non trẻ trong nền kinh tế đang trưởng thành
Quy mô kinh tế thể thao Việt Nam ước tính đạt khoảng 1,5-2,5 tỉ đô la Mỹ, tương đương 0,3-0,5% GDP. Đặc biệt, quy mô ngành thể thao "lõi" gồm các giải đấu chuyên nghiệp, sự kiện thể thao và dịch vụ tập luyện chỉ chiếm 0,7-1,2 tỉ đô la Mỹ, theo Báo cáo Kinh tế Thể thao Việt Nam 2026 do Vietcontent (đơn vị tham gia trực tiếp vào chuỗi thương mại của ngành này) thực hiện và báo cáo tại Diễn đàn Kinh tế Thể thao Việt Nam (VSES) 2026 hồi cuối tháng 3.
So với các nền kinh tế trong khu vực, tỷ trọng này còn khiêm tốn. Khoảng cách không chỉ phản ánh mức độ phát triển thấp hơn, mà còn cho thấy Việt Nam mới ở giai đoạn đầu hình thành một ngành kinh tế thể thao đúng nghĩa.
Điểm đáng chú ý là quy mô tham gia các hoạt động thể thao không nhỏ, với khoảng 30–35 triệu người, tương đương gần một phần ba dân số, có hoạt động thể thao ở các mức độ khác nhau. Tuy nhiên, giá trị kinh tế tạo ra lại thấp hơn nhiều. Điều này cho thấy phần lớn hành vi thể thao vẫn mang tính tự phát, phân mảnh và chi tiêu thấp. Khi loại bỏ các trùng lặp và điều chỉnh theo mức độ tham gia thực chất, phần lớn giá trị thị trường đến từ một nhóm nhỏ người tiêu dùng có mức chi tiêu cao.
Cấu trúc này khá phổ biến ở các thị trường mới nổi. Nhưng nó cũng cho thấy thể thao tại Việt Nam chưa được tổ chức như một hệ thống kinh tế có khả năng tạo ra và tái tạo giá trị.
Fitness và bán lẻ thể thao đang dẫn dắt đà tăng của ngành. Dịch vụ phòng gym, luyện tập có quy mô 0,3-0,6 tỉ đô la Mỹ, trong khi bán lẻ thể thao đạt 0,6-1 tỉ đô la Mỹ. Cả hai đều gắn với xu hướng chăm sóc sức khỏe của tầng lớp trung lưu đô thị và chủ yếu dựa vào chi tiêu cá nhân.
Ngược lại, các yếu tố cốt lõi của một nền kinh tế thể thao phát triển như giải đấu chuyên nghiệp, sự kiện lớn, bản quyền truyền thông và dữ liệu người hâm mộ vẫn còn quy mô khiêm tốn. Việt Nam đang có nhu cầu đủ lớn để hình thành thị trường, nhưng hệ thống hỗ trợ chưa đủ hoàn chỉnh để biến nhu cầu thành giá trị kinh tế bền vững.
Một trong những hạn chế lớn là thiếu công cụ đo lường. Việt Nam chưa có "tài khoản vệ tinh thể thao" theo chuẩn OECD, khiến việc theo dõi và hoạch định chính sách gặp khó khăn. Nhiều hoạt động thể thao nằm trong khu vực phi chính thức, hoặc bị phân tán trong các ngành như bán lẻ, du lịch, giải trí. Khi không đo lường được, thể thao tồn tại trong nền kinh tế nhưng không "hiện diện" trong các công cụ quản lý.
Nhìn ở góc độ phát triển, kinh tế thể thao thường đi qua ba giai đoạn. Giai đoạn đầu là tham gia - khi số lượng người chơi tăng lên nhưng chi tiêu còn thấp. Giai đoạn thứ hai là thương mại hóa dịch vụ - khi các mô hình kinh doanh như fitness, bán lẻ và sự kiện bắt đầu phát triển. Giai đoạn thứ ba là công nghiệp hóa - khi nội dung, bản quyền, dữ liệu và các tài sản vô hình trở thành nguồn doanh thu chính. "Việt Nam hiện đang ở cuối giai đoạn thứ nhất và mới chạm vào giai đoạn thứ hai. Khoảng cách lớn nhất nằm ở bước chuyển sang giai đoạn thứ ba”, ông Trương Trí Vĩnh, đại diện nhóm nghiên cứu nói với Tạp chí Kinh tế Sài Gòn.

Đồng diễn võ Vivonam tại TPHCM. Ảnh: Lê Vũ
Từ tiềm năng đến hiện thực
Nút thắt lớn nhất không nằm ở nhu cầu, mà ở khả năng xây dựng các tài sản thể thao có thể thương mại hóa ở quy mô lớn.
Hạ tầng hiện nay, các sân vận động và tổ hợp thể thao, phần lớn chưa đạt tiêu chuẩn để tổ chức giải đấu chuyên nghiệp định kỳ hoặc sự kiện quốc tế. Thị trường vì thế bị chi phối bởi các "cơn sốt ngắn hạn". Doanh thu tăng vọt trong một sự kiện, rồi nhanh chóng hạ nhiệt. Một nền kinh tế như vậy như vậy khó thu hút đầu tư dài hạn vì thiếu tính ổn định và khả năng dự báo.
Trong khi đó, tại các nền kinh tế phát triển, hạ tầng thể thao không chỉ là nơi thi đấu, mà còn là trung tâm của hệ sinh thái kinh tế gắn liền với bất động sản, bán lẻ, ẩm thực, du lịch. Thể thao trở thành nền tảng kích hoạt nhiều ngành dịch vụ khác.
Trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn chế, "xã hội hóa", tức huy động vốn tư nhân, trở thành điều kiện cần. Tuy nhiên, dòng vốn này chỉ chảy vào khi môi trường kinh doanh minh bạch và có khả năng sinh lợi rõ ràng. Điều đó đòi hỏi sự chuyển đổi trong tư duy quản lý, từ kiểm soát sang kiến tạo.

Giải chạy marathon thuộc nhóm hoạt động thể thao hiệu quả nhất trong việc thu hút đông đảo người tham dự đồng thời tạo ra lợi nhuận rõ rệt. Ảnh: Lê Vũ.
Bài học từ Hàn Quốc được các chuyên gia chia sẻ tại Diễn đàn Kinh tế Thể thao càng củng cố nhận định này. Ông Cho Hyun Jae, Chủ tịch Quỹ xúc tiến Thể thao Hàn Quốc, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, cho biết chính sách nhất quán, hợp tác công - tư (PPP) và quy hoạch dài hạn đã biến thể thao thành một trụ cột kinh tế. Việt Nam, theo các chuyên gia, hoàn toàn có lợi thế để áp dụng những thực tiễn tốt nhất và đẩy nhanh tiến độ.
Một số doanh nghiệp trong nước đã bắt đầu thử nghiệm mô hình tích hợp giữa nhà ở, thương mại và thể thao, hướng tới các không gian sống gắn với trải nghiệm. Nhưng các sáng kiến này vẫn rời rạc, chưa nằm trong một chiến lược tổng thể.
Vấn đề còn lại nằm ở khung thể chế. Trong nhiều năm, thể thao được quản lý chủ yếu dưới góc độ hành chính và thành tích, thay vì như một ngành kinh tế. Điều này tạo ra khoảng trống trong các chính sách về thương mại hóa, từ bản quyền truyền thông, tài trợ đến khai thác dữ liệu.
“Mười năm tới là giai đoạn quyết định. Nếu thiết lập đúng các chính sách ngay bây giờ, chúng ta có thể bỏ qua một số bước mà các nước khác phải mất hàng chục năm mới hoàn thành”, ông Trương Trí Vĩnh nhận định.
Tại Diễn đàn Kinh tế Thể thao 2026, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xác định thể chế là động lực then chốt. Hai hướng hành động được đặt ra là sửa đổi Luật Thể dục Thể thao theo hướng tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, trong đó dành một chương riêng về kinh tế thể thao, và trình Chính phủ ban hành chiến lược ngành đến năm 2045 ngay trong năm 2026.

Trong 10 năm tới là giai đoạn quyết định để thể thao có thể trở thành một ngành kinh tế thực thụ. Ảnh: Lê Vũ.
Ngoài ra, ở các thị trường phát triển, dữ liệu người hâm mộ và hành vi tiêu dung đóng vai trò trung tâm giúp định giá bản quyền, thiết kế sản phẩm và tối ưu hóa doanh thu. Ngược lại, tại Việt Nam, hạ tầng dữ liệu thể thao gần như chưa tồn tại ở cấp quốc gia. Doanh nghiệp vì thế gặp khó trong việc xây dựng chiến lược dài hạn và thu hút đầu tư.
Báo cáo của Vietcontent đưa ra hai kịch bản. Trong kịch bản cơ sở, đến năm 2035, quy mô ngành có thể đạt từ 6-10 tỉ đô la Mỹ, tương đương 0,8 - 1,2% GDP. Trong kịch bản tham vọng hơn kéo dài đến 2055, nếu các yếu tố hạ tầng, chính sách và thương mại hóa được triển khai đồng bộ, kinh tế thể thao có thể trở thành một thành phần đáng kể trong cấu trúc nền kinh tế dịch vụ.
Xét rộng hơn, kinh tế thể thao gắn liền với quá trình chuyển dịch từ sản xuất sang dịch vụ, từ hàng hóa sang trải nghiệm. Khác với công nghiệp truyền thống, sản phẩm cốt lõi của thể thao là trải nghiệm và cảm xúc - những yếu tố khó đo lường nhưng có giá trị kinh tế lớn.
Việt Nam từng tăng tốc trong công nghiệp hóa khi hội tụ đủ lao động, vốn và chính sách. Kinh tế thể thao đặt ra một bài toán tương tự, nhưng trong một không gian mới.
“Chúng ta không thiếu nhu cầu cũng không thiếu tinh thần kinh doanh. Điều còn thiếu là khung chính sách đủ mạnh để biến chi tiêu tiêu dùng rời rạc thành một ngành kinh tế có cấu trúc và có thể đo lường”, ông Vĩnh nói.
Minh Tâm
2 ngày trước
2 ngày trước
2 giờ trước
27 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
12 phút trước
17 phút trước
18 phút trước
22 phút trước
24 phút trước
26 phút trước
27 phút trước
27 phút trước