🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Thay đổi tư duy thu hút FDI để thoát bẫy 'tăng trưởng không tích lũy'

1 giờ trước
Việt Nam cần đổi mới tư duy thu hút FDI, lấy công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) làm hạt nhân, ưu tiên dòng vốn có khả năng chuyển giao tri thức, xây dựng năng lực nội sinh cho nền kinh tế.

Đó là quan điểm của ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh - Giám đốc Vietnam Industry Zone (VIZ), chuyên gia cao cấp Viện Khoa học Công nghệ Xây dựng (AIST) thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Công Thương về định hướng chiến lược FDI của Việt Nam trong kỷ nguyên AI.

Khu vực FDI đóng góp khoảng 20% GDP, chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu và đóng vai trò quan trọng trong hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn, đặc biệt là điện tử và chế biến - chế tạo.

Bốn thập kỷ thu hút FDI

Sau bốn thập kỷ thực hiện công cuộc Đổi mới (năm 1986) và ban hành Luật Đầu tư nước ngoài (năm 1987), Việt Nam đã đạt được những thành tựu mang tính bước ngoặt trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Từ một nền kinh tế khép kín, quy mô nhỏ, Việt Nam vươn lên trở thành một trong những điểm đến hấp dẫn nhất của dòng vốn quốc tế tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), tính đến hết quý I/2025, cả nước có hơn 42.760 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký vượt 510 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15 quốc gia thu hút FDI lớn nhất toàn cầu. Lũy kế vốn thực hiện đến hết năm 2024 đạt 322,5 tỷ USD, tương đương 64,1% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.

Cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản cấu trúc của nền kinh tế thế giới trong đó có Việt Nam. Ảnh: Thu Hường

Năm 2025 đánh dấu cột mốc mới khi vốn FDI thực hiện ước đạt 27,62 tỷ USD, mức cao nhất trong giai đoạn 2021-2025, tăng 9% so với năm 2024. Tổng vốn đăng ký đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với cùng kỳ.

Khu vực FDI đóng góp khoảng 20% GDP, chiếm trên 70% kim ngạch xuất khẩu và đóng vai trò quan trọng trong hình thành các ngành công nghiệp mũi nhọn, đặc biệt là điện tử và chế biến - chế tạo.

Tuy nhiên, cấu trúc dòng vốn lại bộc lộ những giới hạn. Trong năm 2025, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tới 56,5% vốn đăng ký cấp mới và 82,8% vốn thực hiện toàn quốc. Đặc biệt, ngành điện tử, với kim ngạch xuất khẩu 126,5 tỷ USD năm 2024 (tương đương 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước), có tới 98% thuộc về khối doanh nghiệp FDI, theo nghiên cứu của Đại học RMIT Việt Nam.

Trước đó, tại Diễn đàn Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2025, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Thành Trung cho biết: Chỉ khoảng 5% trong tổng vốn FDI vào Việt Nam được đầu tư ở lĩnh vực công nghệ cao, một con số được đánh giá là chưa tương xứng với kỳ vọng và quy mô nền kinh tế.

Về vấn đề này, ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh cho hay: “Việt Nam đang tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng chủ yếu ở khâu gia công và lắp ráp, nơi giá trị gia tăng thấp nhất. Nếu không có cơ chế buộc dòng vốn FDI gắn với chuyển giao công nghệ và phát triển năng lực nội địa, nền kinh tế sẽ đối mặt với nguy cơ tăng trưởng không tích lũy: quy mô lớn lên nhưng năng lực không được nâng cấp tương xứng”.

Hiện nay, cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi căn bản cấu trúc của nền kinh tế thế giới. AI không còn là một công nghệ đơn lẻ, mà trở thành hạ tầng nền tảng, tương tự như điện năng trong thế kỷ XX, có khả năng tái định hình mọi ngành kinh tế.

Dưới tác động của AI, dòng vốn FDI toàn cầu đang dịch chuyển theo ba xu hướng: từ đầu tư vào tài sản vật lý sang hạ tầng số (trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây); từ sử dụng lao động phổ thông sang nhân lực trình độ cao (kỹ sư AI, chuyên gia dữ liệu); và từ cạnh tranh bằng ưu đãi thuế sang cạnh tranh bằng chất lượng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Trong bối cảnh đó, một mô hình mới đang hình thành: FDI - AI, dòng vốn đầu tư gắn với trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu và các nền tảng công nghệ lõi, xu hướng định hình lại bản đồ đầu tư toàn cầu trong thập kỷ tới.

“FDI trong kỷ nguyên AI không còn là dòng vốn đi tìm kiếm chi phí thấp mà là dòng vốn tìm kiếm hệ sinh thái tri thức. Các tập đoàn công nghệ toàn cầu lựa chọn địa điểm đầu tư dựa trên năng lực tính toán, chất lượng nguồn nhân lực và mức độ trưởng thành của hệ sinh thái đổi mới, buộc các quốc gia phải tái định vị chiến lược FDI theo hướng lấy công nghệ làm trung tâm”, ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh khẳng định.

Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài - Bộ Tài chính. Đồ họa: Nguyên Khánh

Việt Nam trước ngã rẽ chiến lược

Việt Nam bước vào kỷ nguyên AI với nhiều lợi thế, đơn cử, quy mô dân số hơn 100 triệu người, lực lượng lao động trẻ, nền tảng sản xuất công nghiệp đã được thiết lập và vị thế địa chính trị thuận lợi trong xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bên cạnh đó, những điểm nghẽn mang tính cấu trúc vẫn hiện hữu, hạ tầng AI còn sơ khai, thiếu các trung tâm dữ liệu quy mô lớn; nguồn nhân lực AI chuyên sâu còn hạn chế; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phân tán, thiếu liên kết; chính sách FDI chưa gắn với điều kiện chuyển giao công nghệ thực chất.

Tuy nhiên, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 về hội nhập quốc tế trong tình hình mới của Bộ Chính trị đã tạo "trụ cột thể chế" định hướng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Mục tiêu đến năm 2045 được Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định rõ: Việt Nam có quy mô kinh tế số đạt tối thiểu 50% GDP; trở thành một trong các trung tâm công nghiệp công nghệ số của khu vực và thế giới; làm chủ các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, IoT, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn và công nghệ lượng tử; đồng thời thu hút thêm ít nhất 5 tổ chức, doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở, đầu tư nghiên cứu và sản xuất tại Việt Nam.

Ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh nhìn nhận, Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ chiến lược: hoặc tiếp tục thu hút FDI theo mô hình cũ và chấp nhận vị thế gia công trong chuỗi giá trị toàn cầu, hoặc chuyển sang mô hình FDI - AI để từng bước làm chủ công nghệ. Sự khác biệt giữa hai lựa chọn này chính là vị thế của quốc gia trong trật tự kinh tế mới.

Để tận dụng cơ hội từ làn sóng FDI - AI, Việt Nam cần một cách tiếp cận hoàn toàn mới. Trọng tâm không còn là thu hút tối đa dòng vốn, mà là lựa chọn dòng vốn có chất lượng cao và khả năng lan tỏa công nghệ.

Theo chuyên gia, điều này đòi hỏi sự chuyển dịch từ chính sách ưu đãi đại trà sang cơ chế ràng buộc có điều kiện. Các dự án FDI cần đáp ứng đồng thời bốn tiêu chí: cam kết chuyển giao công nghệ thực chất; thiết lập trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong nước; liên kết với hệ thống doanh nghiệp nội địa.

Cùng với đó là đầu tư mạnh mẽ vào ba trụ cột nền tảng: hạ tầng AI quốc gia (trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, năng lực tính toán); nguồn nhân lực AI chất lượng cao; và ứng dụng AI trong các ngành kinh tế chủ lực như công nghiệp chế biến - chế tạo, năng lượng, logistics, tài chính - ngân hàng và nông nghiệp công nghệ cao.

Trong giai đoạn phát triển mới, FDI - AI trở thành công cụ để Việt Nam xây dựng năng lực công nghệ quốc gia và nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

“Nếu FDI chỉ mang lại dòng vốn, nền kinh tế có thể tăng trưởng nhanh nhưng dễ bị thay thế. Nhưng nếu FDI mang lại công nghệ và năng lực nội sinh, quốc gia đó sẽ tăng trưởng và có thể định hình luật chơi”, ông Đỗ Nguyễn Hồng Linh đánh giá.

Bốn mươi năm trước, Việt Nam mở cửa để đón dòng vốn. Bốn mươi năm tới, Việt Nam cần mở một cánh cửa khác, cánh cửa của tri thức, công nghệ và năng lực sáng tạo. Sự chuyển dịch tư duy này không chỉ quyết định chất lượng tăng trưởng, mà còn định hình vị thế Việt Nam trong một thế giới đang được tái cấu trúc bởi trí tuệ nhân tạo.

Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu thu hút mỗi năm khoảng 40-50 tỷ USD vốn FDI, trong đó vốn FDI giải ngân đạt từ 30-40 tỷ USD mỗi năm. Trong giai đoạn tới, dòng vốn FDI tiếp tục được xem là một trong những động lực quan trọng để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao.

Nguyên Khánh

TIN LIÊN QUAN



Dòng vốn xanh
Báo Bắc Ninh 10 ngày trước



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ