Thảnh thơi cùng 'Dũng đen Chợ Gạo'

Chân dung tự họa của Trần Nguyên Dũng.
Một đời khép mình để vẽ
Sinh năm 1942 trong một gia đình ở phố Chợ Gạo - nằm trong khu phố cổ Hà Nội, Trần Nguyên Dũng lớn lên giữa những con ngõ nhỏ, những mái nhà cũ, chợ Đồng Xuân, cầu Long Biên và nhịp sống đặc trưng của đất kinh kỳ. Từ rất sớm, ông đã bộc lộ năng khiếu hội họa. Khoảng 12 tuổi, ông theo học tại xưởng Trí Tri của họa sĩ Lương Xuân Nhị, sau đó tiếp tục học ở xưởng Sáng Tạo của họa sĩ Phạm Viết Song.
Con đường ấy giúp Trần Nguyên Dũng hình thành một kiểu trưởng thành rất riêng: tích lũy chậm, sâu và bền. Ảnh hưởng của hai người thầy lớn theo ông suốt cuộc đời sáng tác. Từ họa sĩ Lương Xuân Nhị, ông học được tình yêu với vẻ đẹp của người phụ nữ Hà Nội, sự mềm mại và tinh tế trong tạo hình. Còn với họa sĩ Phạm Viết Song, ông học được tinh thần lao động nghệ thuật nghiêm túc và sự tự do trong tư duy sáng tạo.
Có lẽ vì thế mà hội họa Trần Nguyên Dũng luôn tồn tại những đối cực thú vị. Con người ngoài đời ít nói bao nhiêu thì tranh lại rực rỡ bấy nhiêu. Một người sống lặng lẽ, gần như “sợ người”, lại dành cả đời để tạo nên những bức tranh đầy sinh khí, đầy chuyển động và ánh sáng.
Nhà phê bình mỹ thuật Hải Yến từng nhắc lại nhận xét của họa sĩ Phạm Viết Song về người học trò của mình: “phi xã hội”. Đó không phải lời chê trách mà là một cách mô tả khá chính xác về một con người dường như không mấy bận tâm tới những cuộc đua danh vị hay các mối quan hệ nghề nghiệp. Trong khi nhiều người cùng thời quan tâm đến con đường quản lý hoặc vị trí xã hội, Trần Nguyên Dũng lại thu mình trong thế giới hội họa riêng.
Dù vậy, ông vẫn được nhiều danh họa lớn quý mến. Sinh thời, ông có mối quan hệ thân thiết với Bùi Xuân Phái, Hoàng Lập Ngôn, Trần Trung Tín... Bà Trương Thanh Trà, vợ họa sĩ, vẫn nhớ câu chuyện hai họa sĩ Bùi Xuân Phái và Trần Trung Tín đi tìm nhà mình ở ngõ Đông Thái. Không nhớ số nhà, hai ông cứ đi từ đầu ngõ đến cuối ngõ rồi gọi lớn: “Dũng ơi, có nhà không?”. Khi ấy bà Trà đang ở tầng ba, nghe tiếng gọi mới biết có người đang đi tìm chồng mình.
Từ năm 1959 đến năm 1992, Trần Nguyên Dũng công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nội với vai trò họa sĩ. Ông tham gia thực hiện các triển lãm, tranh cổ động và mỹ thuật tuyên truyền trong suốt nhiều thập niên. Những năm chiến tranh, có giai đoạn ông gần như ăn ngủ tại cơ quan để kịp tiến độ công việc. Quãng thời gian ấy giúp ông có được sự kỷ luật và sức lao động bền bỉ, nhưng cũng khiến phần nghệ sĩ trong ông luôn cảm thấy chưa được sống trọn vẹn.
Cũng trong những năm tháng ấy, ông gặp bà Trương Thanh Trà, người sau này trở thành hậu phương vững chắc để ông toàn tâm toàn ý với hội họa. Bà Trà là con gái phố Gia Ngư, từng làm công tác phụ động trong các hoạt động mỹ thuật tuyên truyền. Nhắc lại chuyện xưa, bà Trà nói rằng mình quý ông bởi tính tình thật thà nhưng rất tự trọng. Hai người nên duyên, có với nhau hai người con và sống nhiều năm trong căn nhà nhỏ ở ngõ Đông Thái.
Năm 1993, họa sĩ Trần Nguyên Dũng quyết định nghỉ hưu sớm để bước vào giai đoạn sáng tác tự do. Đó cũng là lúc hội họa của ông thực sự được “mở khóa”.
Theo bà Trà, từ khi nghỉ hữu, ông Dũng gần như chỉ có một mối quan tâm duy nhất là vẽ. Ông không để tâm nhiều đến tiền bạc, chuyện học hành của con cái hay các mối quan hệ xã hội. Mọi việc trong gia đình đều do vợ quán xuyến. Ông vẽ ngày, vẽ đêm. Khi vẽ thường mở nhạc Phạm Duy. Bạn bè tới chơi, trò chuyện rôm rả, ông vẫn lặng lẽ ngồi trước giá vẽ.
Khi nghỉ hưu, nhờ sự động viên của bà Đôn Thư - chủ hiệu sách Ngoại văn nổi tiếng ở Hà Nội - ông bắt đầu gửi tranh bán. Từ những bức tranh nhỏ, ông dần mở rộng sang sơn dầu, lụa, bột màu và sơn mài. Tranh của ông được nhiều khách nước ngoài yêu thích, đặc biệt là khách Pháp và Thụy Điển. Có người không đủ tiền mua tranh, xin đặt cọc rồi về nước gửi tiếp. Có người được chính họa sĩ khuyên không nên mua vì chất liệu khó bảo quản ở xứ lạnh. Theo lời bà Trà, tranh lớn khi ấy bán vài trăm USD, tranh nhỏ vài chục USD, “nói chung đủ sống”.
Người thân trong gia đình họa sĩ cũng kể rằng, sinh thời Trần Nguyên Dũng ngại làm triển lãm. Ông sống thu mình trong thế giới hội họa và gần như không quan tâm tới việc quảng bá tên tuổi. Tuy nhiên, nhiều tác phẩm đẹp của ông đã sớm lọt vào mắt xanh của các nhà sưu tập tư nhân. Bởi vậy, dù ba thập niên miệt mài sáng tác như một công chức mẫn cán của nghệ thuật, số tranh gia đình còn giữ lại hiện nay không nhiều.




Tác phẩm của họa sĩ Trần Nguyên Dũng.
Những miền ký ức trong tranh
Đúng 3 năm sau ngày họa sĩ Trần Nguyên Dũng đi xa, triển lãm "Những ngày thảnh thơi" do Artnam Gallery tổ chức đã đưa công chúng trở lại gần hơn với hội họa của ông. Nhưng phía sau hơn 60 tác phẩm là chân dung một người nghệ sĩ đặc biệt của Hà Nội: lặng lẽ sống, lặng lẽ vẽ và dành gần như trọn đời mình để lưu giữ bằng màu sắc những vẻ đẹp bình dị của phố phường, lễ hội, thiếu nữ và ký ức Bắc Bộ.
Họa sĩ Trần Nguyên Dũng không phải cái tên thường xuyên xuất hiện trong những câu chuyện về thị trường mỹ thuật hay các triển lãm đình đám. Ông cũng không thuộc mẫu nghệ sĩ thích quảng bá bản thân. Vì thế, với không ít người yêu mỹ thuật, triển lãm “Những ngày thảnh thơi” lần này giống như một cuộc gặp gỡ muộn màng. Họ bất ngờ khi nhận ra phía sau cái tên “Dũng đen Chợ Gạo” là một thế giới hội họa phong phú đến vậy; phía sau vẻ lặng lẽ của người nghệ sĩ là một đời sống sáng tạo bền bỉ kéo dài suốt nhiều thập niên.
Căn phòng trưng bày của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam vốn đã quen thuộc với công chúng yêu mỹ thuật. Nhiều triển lãm từng diễn ra ở đây. Nhưng lần này, khi bước vào, tôi vẫn thấy bất ngờ. Bất ngờ bởi hơn 60 tác phẩm của họa sĩ Trần Nguyên Dũng như mở ra một thế giới riêng: rực rỡ mà không chói gắt, đậm đặc ký ức mà không nặng nề hoài niệm.
Các tác phẩm được sắp đặt thành 3 chủ đề chính: “Những ngày có hội”, “Thiếu nữ Hà Nội” và “Phố không vội vã”. Ba không gian như 3 lát cắt của cùng một thế giới nghệ thuật.
Ở “Những ngày có hội”, người xem bắt gặp những lễ hội dân gian, những phiên chợ xuân, những màn múa rồng, múa lân, múa rối nước. Trong các tác phẩm như “Múa rồng 3”, “Múa rối nước chùa Thầy”, “Ngày hội”, “Chợ Bưởi ngày Tết”, màu sắc bừng lên mạnh mẽ. Đỏ, vàng, xanh lam, tím, hồng, đen và trắng va đập trực tiếp vào nhau, tạo nên một nhịp điệu thị giác sôi động. Nhưng Trần Nguyên Dũng không ghi chép lễ hội theo kiểu minh họa. Ông chuyển hóa lễ hội thành một trường màu, một nhịp điệu cảm xúc. Họa sĩ vẽ nhiều nhân vật trong tranh lại thêm nhiều chi tiết nhưng không rối mắt.
Đứng trước "Múa rối nước chùa Thầy", tôi bất giác nhớ những ngày hội chùa Thầy thuở nhỏ. Nhớ mặt hồ trước thủy đình. Nhớ tiếng trống hội vọng lên giữa đám đông. Tranh Trần Nguyên Dũng có khả năng gợi nhớ như thế. Dường như ông không kể chuyện. Ông chỉ mở ra một cánh cửa, để người xem bước vào, để người xem tự đánh thức những giác quan, những ký ức chìm khuất.
Rời khỏi không khí lễ hội, người xem bước vào không gian “Thiếu nữ Hà Nội”. Đây có lẽ là mảng đề tài cho thấy rõ nhất sự ảnh hưởng của Lương Xuân Nhị trong hội họa Trần Nguyên Dũng.
Những thiếu nữ trong “Thưởng sen đầu hạ”, “Thưởng sen trong phòng”, “Trên ban công”, “Quầy hoa Bờ Hồ - Hàng Khay” hay “Tết cổ truyền gia đình Hà Nội” không phải những mỹ nhân kiểu cách. Họ hiện diện tự nhiên trong đời sống thường ngày, giữa hoa, giữa nắng, giữa không khí đoàn viên của gia đình và phố phường Hà Nội. Những tà áo dài mềm mại, những gam màu dịu, những đường nét tiết chế tạo nên cảm giác thanh lịch và bình yên.
Nhà phê bình mỹ thuật Hải Yến từng bày tỏ sự thích thú với tác phẩm “Cô gái bên lọ hoa” hoàn thành năm 1993. Họa sĩ tiết giảm tối đa các chi tiết trên gương mặt và cơ thể người phụ nữ, sử dụng khoảng trắng, nét đen và những điểm màu hiện đại để tạo nên một cấu trúc thị giác vừa Á Đông vừa đương đại.

Tác phẩm “Cầu Thê Húc” (bột màu, 1998).

Tác phẩm “Đền Bạch Mã Hàng Buồm” (sơn dầu, 1994).
Căn phòng cuối cùng, “Phố không vội vã”, có lẽ là nơi khiến nhiều người dừng lại lâu nhất. Tinh thần “thảnh thơi” đã tạo nên một Hà Nội rất riêng trong tranh Trần Nguyên Dũng. Dường như với ông, nhịp sống thanh lịch, chậm rãi và ung dung chính là điều làm nên chiều sâu văn hóa của đất kinh kỳ.
Từ “Phố Hàng Bạc”, “Phố Hàng Bè”, “Phố Hàng Mắm”, “Phố Hàng Mã”, “Ngõ Phất Lộc”, “Phố xưa”, đến đền Bạch Mã, chợ hoa Hàng Lược hay vườn hoa Nhật Tân, những địa danh quen thuộc hiện lên không như sự ghi chép địa lý mà như những lát cắt ký ức được chưng cất bằng màu sắc, ánh sáng và tình yêu dành cho Hà Nội.
Trong “Ngõ Phất Lộc”, những mái nhà cổ xếp lớp, những ô cửa nhỏ, những khoảng màu xanh, đỏ, vàng đan cài tạo nên một không gian vừa thực vừa mơ. Trong các tác phẩm về phố cổ, bảng màu thường trầm mặc với xanh lam, trắng, nâu đen làm chủ đạo; xen vào đó là những điểm vàng, đỏ, hồng như những đốm lửa nhỏ khiến phố cũ bừng sáng.
Ngược lại, ở những tác phẩm như “Vườn hoa Nhật Tân”, “Phố Hàng Mã”, “Hoa xuân ca”, “Trong vườn hoa” hay “Trong vườn”, màu sắc lại rực rỡ hơn hẳn. Nhưng cái rực rỡ ấy vẫn mềm mại và thanh nhã, đúng chất Hà thành.
Đi giữa những bức tranh ấy, tôi chợt hiểu vì sao triển lãm mang tên "Những ngày thảnh thơi". Không chỉ là sự thảnh thơi của người xem, mà còn là sự thảnh thơi của chính người họa sĩ - một con người dành gần như toàn bộ cuộc đời mình cho hội họa, đi qua bao biến động của thời cuộc nhưng vẫn giữ được một tâm hồn trong trẻo, hồn hậu và một tình yêu bền bỉ với Hà Nội.
Một Hà Nội còn ở lại
Trần Nguyên Dũng là một trong số ít họa sĩ thành thục nhiều chất liệu. Ông vẽ bột màu, sơn dầu, lụa, sơn mài. Ở mỗi chất liệu lại hiện ra một gương mặt khác của người nghệ sĩ.
Nếu tranh lụa cho thấy vẻ mềm mại và tiết chế, sơn dầu giúp ông đẩy cảm xúc và màu sắc lên mạnh hơn, thì sơn mài lại mở ra một chiều sâu đặc biệt. Những nền son, vàng, xanh thẫm, đen và trắng bạc, cùng các lớp mài, vết xước và độ óng của chất liệu khiến thời gian như lắng đọng trên bề mặt tranh. Trong những tác phẩm sơn mài như “Làng quê Việt Nam” hay nhiều bức tranh lễ hội, người xem cảm nhận được vẻ đẹp vừa lộng lẫy vừa trầm mặc của ký ức Việt.
Màu sắc là một trong những dấu ấn nổi bật nhất của Trần Nguyên Dũng. Ông sử dụng những gam màu mạnh, tương phản cao nhưng hiếm khi tạo cảm giác chói gắt. Hồng, xanh lam, vàng, tím, đỏ cam, xanh lục, trắng và đen được đặt cạnh nhau như những nốt nhạc, tạo nên một nhịp điệu thị giác riêng biệt.
Theo nhà phê bình mỹ thuật Hải Yến, họa sĩ Trần Nguyên Dũng là một người có phong cách đa dạng. Có lúc ông đi gần với dân gian và biểu hiện, có lúc lại nghiêng về tinh thần thủy mặc tối giản. Việc thoải mái đi lại giữa sơn mài, sơn dầu, lụa, bột màu và chất liệu tổng hợp tạo cho ông sự tự do đáng quý của một nghệ sĩ thực thụ.
Những bức tranh kích thước khác nhau, trong đó có nhiều tác phẩm khổ lớn, đều được gia đình và những người thực hiện triển lãm gìn giữ rất cẩn thận. Đứng trước tranh, người xem không chỉ nhìn thấy một phong cách hội họa mà còn nhìn thấy một nhân cách nghệ sĩ.
Sẽ có người thích tranh Trần Nguyên Dũng, cũng sẽ có người chưa thích. Điều đó hoàn toàn bình thường. Nhưng rất khó phủ nhận cảm giác bình yên mà tranh ông mang lại. Một Hà Nội hiện lên qua lễ hội, qua thiếu nữ, qua những con phố đã đi vào ký ức, luôn giữ được sự dịu dàng và tha thiết.
Giữa những ngày Hà Nội đâu đâu cũng là công trường, ngay cả để gặp được sự “thảnh thơi” trong triển lãm này, nhiều người cũng phải đi qua những tuyến phố đang đào xới để hạ ngầm hạ tầng kỹ thuật. Thành phố vẫn chuyển động từng ngày, vẫn thay đổi từng ngày. Bởi thế, bước vào “Những ngày thảnh thơi” giống như bước vào một khoảng lặng hiếm hoi.
Ở đó có hội làng, có chợ hoa, có những thiếu nữ Hà Nội, có ngõ Phất Lộc, có Ô Quan Chưởng, có những quán cà phê cóc nép mình bên phố cũ. Có một Hà Nội không vội vã. Có một Hà Nội hào hoa, thanh lịch và dịu dàng mà Trần Nguyên Dũng đã dành cả đời để lưu giữ bằng hội họa.
Họa sĩ đã đi xa. Nhưng những tác phẩm của ông vẫn còn ở lại.Và có lẽ điều đẹp nhất mà Trần Nguyên Dũng để lại không chỉ là hàng nghìn ngày lao động nghệ thuật bền bỉ, mà còn là khả năng khiến người xem, giữa nhịp sống ngày càng gấp gáp, vẫn có thể dừng lại đôi phút trước một bức tranh để thấy lòng mình dịu xuống.
Thảnh thơi như cách ông đã sống. Thảnh thơi như cách ông đã vẽ. Và thảnh thơi như cách Hà Nội còn ở lại trong tranh ông.
Cảm ơn họa sĩ Trần Nguyên Dũng vì đã lưu giữ bằng hội họa một Hà Nội hào hoa, thanh lịch và dịu dàng. Một Hà Nội có thể đã đổi thay rất nhiều ngoài đời sống, nhưng vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức của nhiều người và trong những lớp màu ông để lại.
Thư Hoàng
1 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
5 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước
8 giờ trước