Thái Nguyên đưa 149 vùng chè lên bản đồ số bằng GPS

Thái Nguyên vừa hoàn thành việc đưa 149 mã số vùng trồng chè lên hệ thống định vị GPS, đánh dấu bước tiến mới trong số hóa vùng nguyên liệu. (Ảnh: baothainguyen.vn)
GPS và nhật ký điện tử tạo nền tảng quản trị vùng chè số
Để thúc đẩy chuyển đổi số ngành chè, Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên đã phối hợp với VNPT Thái Nguyên triển khai mô hình thí điểm ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất.
Thông qua ứng dụng VNPT Green, các hộ sản xuất, tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp được hướng dẫn cập nhật quy trình canh tác, ghi chép nhật ký điện tử, theo dõi tình trạng cây trồng và quản lý toàn bộ quá trình sản xuất trên nền tảng số.
Đến nay, 45 tổ hợp tác, hợp tác xã và doanh nghiệp tại các vùng chè trọng điểm như Quyết Thắng, Tân Cương, Đại Phúc, Đồng Hỷ, Văn Hán, Quân Chu, Vạn Phú, Phú Xuyên... đã tham gia mô hình.
Song song với hệ thống quản lý mã số vùng trồng, ngành nông nghiệp còn vận hành nhiều nền tảng số phục vụ quản lý sản xuất như phần mềm theo dõi sinh vật gây hại cây trồng, cơ sở dữ liệu kiểm dịch thực vật, dữ liệu thanh tra chuyên ngành, quản lý cửa hàng vật tư nông nghiệp và phân bón.
Trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông sản, Thái Nguyên đã xây dựng hệ thống phần mềm quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản. Hiện hệ thống có hơn 500 tài khoản sử dụng, quản lý trên 5.000 cơ sở sản xuất, 222 vùng sản xuất với gần 1.400 ha, đồng thời đã tạo lập 74 sổ nhật ký sản xuất điện tử và cập nhật thông tin 87 sản phẩm.
Việc hình thành các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đang tạo nền tảng để kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các hệ thống thông qua API, từng bước xây dựng hệ sinh thái dữ liệu nông nghiệp phục vụ quản lý và truy xuất nguồn gốc.
Hoàn thiện hệ sinh thái dữ liệu để nâng giá trị chè Thái Nguyên
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số vẫn gặp không ít thách thức. Toàn tỉnh hiện có khoảng 80.000 cơ sở sản xuất nông nghiệp, phần lớn là nông hộ quy mô nhỏ; chỉ khoảng 400-500 doanh nghiệp và hợp tác xã có khả năng thường xuyên cập nhật dữ liệu trên các nền tảng truy xuất nguồn gốc điện tử.
Theo ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên, hoạt động truy xuất nguồn gốc hiện vẫn chủ yếu dựa trên sổ ghi chép giấy. Việc ghi nhật ký sản xuất chưa được duy trì thường xuyên, dữ liệu chưa đầy đủ theo từng công đoạn nên gây khó khăn trong kiểm soát chất lượng và truy xuất khi phát sinh sự cố.
Ngoài ra, các hệ thống truy xuất nguồn gốc giữa bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp còn thiếu tính liên thông, làm hạn chế khả năng quản lý xuyên suốt toàn chuỗi giá trị.
Để khắc phục những tồn tại này, Thái Nguyên sẽ tiếp tục chuẩn hóa dữ liệu ngay từ vùng nguyên liệu; mở rộng áp dụng truy xuất nguồn gốc điện tử; tăng cường ứng dụng mã QR, tem điện tử và tích hợp thông tin về kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, mã số vùng trồng trên cùng một nền tảng dữ liệu.
Địa phương cũng sẽ đẩy mạnh phát triển các vùng sản xuất đạt tiêu chuẩn VietGAP, hữu cơ, mã số vùng trồng; xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về vùng nguyên liệu, cơ sở chế biến và kinh doanh nông sản nhằm hình thành chuỗi quản lý số khép kín.
Hiện Thái Nguyên có 193 sản phẩm chè OCOP đạt từ 3 đến 5 sao. Việc ứng dụng GPS, nhật ký điện tử và hệ thống truy xuất nguồn gốc số được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch, gia tăng giá trị thương hiệu chè Thái Nguyên, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường xuất khẩu có yêu cầu cao về dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.
Hậu Thạch
2 giờ trước
4 giờ trước
8 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
6 ngày trước
2 giờ trước
1 giờ trước
12 phút trước
5 phút trước
2 phút trước
6 phút trước
7 phút trước
7 phút trước
10 phút trước
13 phút trước
15 phút trước
19 phút trước