🔍
Chuyên mục: Thời sự

Tạo ra diễn đàn kết nối giữa nghiên cứu lý luận, quản lý thực tiễn và đào tạo nguồn nhân lực

2 giờ trước
Hội thảo khoa học quốc gia 'Phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị' sẽ diễn ra tại Trường đại học Văn hóa Hà Nội vào ngày 15/4.

Trường đại học Văn hóa Hà Nội.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn, Phó Hiệu trưởng phụ trách nhà trường cho biết, ý nghĩa lớn nhất của hội thảo là tạo ra một diễn đàn kết nối giữa nghiên cứu lý luận, quản lý thực tiễn và đào tạo nguồn nhân lực.

Phóng viên: Thưa ông, với góc độ người đứng đầu một cơ sở đào tạo đại học các lĩnh vực nhân văn, du lịch, báo chí và thông tin, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa chiến lược của Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết số 80-NQ/TW) trong việc định vị vai trò của văn hóa trong phát triển đất nước hiện nay?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn: Tôi cho rằng Nghị quyết số 80-NQ/TW có ý nghĩa chiến lược rất sâu sắc, bởi nghị quyết này đánh dấu một bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về văn hóa. Nếu như trước đây văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển, thì trong tinh thần mới của Nghị quyết số 80, văn hóa và con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Văn hóa không chỉ được nhìn như một lĩnh vực giá trị hay đời sống tinh thần, mà còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực sáng tạo, sức mạnh mềm quốc gia, trụ cột và hệ điều tiết cho phát triển nhanh, bền vững.

Điểm rất mới của Nghị quyết là cách tiếp cận tích hợp, hiện đại, liên ngành, gắn văn hóa với khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, công nghiệp văn hóa, du lịch văn hóa, giáo dục, đối ngoại, xây dựng thương hiệu quốc gia và bảo vệ chủ quyền văn hóa trên không gian số. Điều đó cho thấy phát triển văn hóa hôm nay không thể hiểu theo nghĩa hẹp, mà phải đặt trong tổng thể mô hình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Từ góc độ một cơ sở đào tạo đại học trong các lĩnh vực nhân văn, du lịch, báo chí và thông tin, chúng tôi nhìn nhận Nghị quyết số 80-NQ/TW không chỉ là định hướng lớn cho lĩnh vực văn hóa mà còn là cơ sở để đổi mới tư duy đào tạo, nghiên cứu và cung ứng nguồn nhân lực, nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ văn hóa có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước.

Phóng viên: Là đơn vị tổ chức hội thảo, ông có thể khái quát những nội dung trọng tâm sẽ được trao đổi, tham luận tại hội thảo? Từ các tham luận tham gia hội thảo, những nhóm vấn đề trọng tâm nào đang được giới nghiên cứu và quản lý văn hóa đặc biệt quan tâm?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn: Hội thảo khoa học quốc gia lần này tập trung vào 5 nhóm nội dung lớn, phản ánh khá toàn diện những vấn đề cốt lõi mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra. Thứ nhất là hoàn thiện thể chế và đổi mới phương thức quản lý, quản trị văn hóa. Thứ hai là xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Thứ ba là bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong xây dựng thương hiệu. Thứ tư là phát triển công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh. Và thứ năm là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển chủ thể văn hóa trong kỷ nguyên số.

Từ 163 tham luận gửi về, có thể thấy giới nghiên cứu và quản lý văn hóa hiện nay đặc biệt quan tâm đến một số nhóm vấn đề trọng tâm. Trước hết là yêu cầu đẩy nhanh việc thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW, khắc phục độ trễ chính sách, tình trạng chồng chéo pháp luật, phân tán nguồn lực và hạn chế trong năng lực quản trị thực thi. Cùng với đó là yêu cầu xây dựng mô hình quản trị văn hóa hiện đại dựa trên dữ liệu, nền tảng số, chỉ số đo lường, đồng thời, chú trọng bản quyền số, chủ quyền văn hóa số và an ninh văn hóa trên không gian mạng.

Một nhóm vấn đề khác được quan tâm rất sâu là xây dựng con người Việt Nam trong bối cảnh mới, nhất là trước tác động của mạng xã hội, truyền thông số, toàn cầu hóa và kinh tế thị trường. Đồng thời, các tham luận cũng dành nhiều chú ý đến việc chuyển từ tư duy “bảo tồn tĩnh” sang “bảo tồn động”, phát huy di sản như một nguồn lực để phát triển du lịch văn hóa, thương hiệu địa phương và thương hiệu quốc gia. Bên cạnh đó là vấn đề phát triển công nghiệp văn hóa, xây dựng hệ sinh thái sản phẩm văn hóa, IP văn hóa, thị trường bản quyền và hạ tầng số. Cuối cùng, nổi lên rất rõ là yêu cầu đổi mới căn bản tư duy đào tạo nhân lực văn hóa trong thời đại số.

Phóng viên: Theo ông, Hội thảo lần này có ý nghĩa như thế nào trong việc kết nối giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn, góp phần đưa Nghị quyết số 80-NQ/TW nhanh chóng đi vào đời sống?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn: Theo tôi, ý nghĩa rất lớn của hội thảo lần này là ở chỗ nó tạo ra một diễn đàn kết nối giữa nghiên cứu lý luận, quản lý thực tiễn và đào tạo nguồn nhân lực. Nghị quyết số 80-NQ/TW là một nghị quyết có tầm nhìn chiến lược, nhưng để nghị quyết thực sự đi vào đời sống thì cần được chuyển hóa thành thể chế, chính sách, thiết chế thực thi, nguồn lực, sản phẩm và những chuyển biến cụ thể trong đời sống văn hóa. Hội thảo chính là nơi tập hợp luận cứ khoa học và thực tiễn cho quá trình ấy.

Điểm rất đáng quý là hội thảo không chỉ dừng ở việc khẳng định các luận điểm tư tưởng của Nghị quyết, mà còn đi sâu nhận diện những điểm nghẽn của thực tiễn như thể chế hóa còn chậm, quản trị còn phân tán, đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng, nguồn nhân lực còn thiếu và yếu, chuyển đổi số chưa đồng đều, thị trường văn hóa phát triển chưa bền vững, khoảng cách thụ hưởng văn hóa còn lớn, nguy cơ thương mại hóa và xâm phạm bản quyền số gia tăng. Việc chỉ rõ những vấn đề này giúp cho các kiến nghị từ hội thảo có tính khả thi hơn, gần với đời sống hơn.

Đồng thời, hội thảo còn giúp tăng cường kết nối giữa các nhà khoa học, nhà quản lý, địa phương, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp và cộng đồng chủ thể văn hóa. Chính sự kết nối đó sẽ tạo nên mạng lưới hành động chung để Nghị quyết số 80 không chỉ dừng lại ở nhận thức, mà thực sự trở thành động lực đổi mới trong quản lý, trong đào tạo và trong phát triển văn hóa ở từng lĩnh vực, từng địa phương.

Phóng viên: Với chức năng đào tạo, nghiên cứu và cung ứng nguồn nhân lực, Trường đại học Văn hóa Hà Nội đã và đang triển khai những giải pháp nào để cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW trong chương trình đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học và thực tiễn nghề nghiệp của sinh viên?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn: Ngay sau khi Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành, Trường đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức phổ biến, quán triệt và học tập nội dung Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên trong toàn trường. Việc tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia lần này chính là một bước đi cụ thể tiếp theo nhằm nhanh chóng đưa tinh thần Nghị quyết vào hoạt động đào tạo, nghiên cứu và thực tiễn nghề nghiệp của nhà trường.

Về đào tạo, nhà trường xác định cần rà soát, cập nhật chương trình đào tạo theo hướng gắn chặt hơn với những yêu cầu mới của phát triển văn hóa trong kỷ nguyên số, như quản trị văn hóa hiện đại, công nghiệp văn hóa, truyền thông số, du lịch văn hóa, dữ liệu và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa. Kết quả của hội thảo cũng sẽ là cơ sở quan trọng để nhà trường điều chỉnh nội dung chương trình theo hướng thiết thực, cụ thể và phù hợp hơn với nhu cầu xã hội.

Về nghiên cứu khoa học, nhà trường đẩy mạnh các hướng nghiên cứu gắn với những vấn đề lớn mà Nghị quyết số 80 đặt ra, như thể chế văn hóa, xây dựng hệ giá trị, phát huy di sản, công nghiệp văn hóa, sức mạnh mềm quốc gia và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, nhà trường chú trọng tăng cường kết nối với các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và địa phương để sinh viên không chỉ học lý thuyết, mà còn được tiếp cận với thực tiễn nghề nghiệp, từ đó hình thành năng lực thích ứng tốt hơn với yêu cầu mới.

Sinh viên Trường đại học Văn hóa Hà Nội.

Phóng viên: Nghị quyết số 80-NQ/TW nhấn mạnh yếu tố con người là trung tâm và phát triển nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao trong bối cảnh mới. Từ góc độ cơ sở đào tạo đại học, nhà trường cần đổi mới tư duy cũng như phương pháp dạy và học như thế nào để đào tạo đội ngũ làm văn hóa vừa có chuyên môn, vừa có bản lĩnh, năng lực trong bối cảnh mới?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn: Theo tôi, trước hết phải đổi mới từ tư duy đào tạo. Trong bối cảnh hiện nay, nhân lực văn hóa không thể chỉ được đào tạo theo mô hình truyền thống, thiên về kiến thức chuyên môn hẹp, mà phải hướng tới mô hình liên ngành, mở và thích ứng cao. Các tham luận tại hội thảo đều cho thấy nhân lực văn hóa thời kỳ mới cần có ít nhất ba nhóm năng lực đồng thời: năng lực chuyên môn văn hóa-nghệ thuật; năng lực quản trị và tổ chức; năng lực công nghệ, dữ liệu và thích ứng số.

Do đó, nhà trường phải chuyển mạnh từ cách dạy truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực toàn diện cho người học. Sinh viên các ngành văn hóa hôm nay không chỉ cần hiểu về giá trị, bản sắc, di sản hay truyền thống, mà còn phải được trang bị tư duy sáng tạo, khả năng tổ chức hoạt động, kỹ năng truyền thông số, hiểu biết về thị trường văn hóa, bản quyền, công nghệ nền tảng và khả năng làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế.

Bên cạnh đó, phương pháp dạy và học cũng cần thay đổi theo hướng tăng trải nghiệm, tăng gắn kết với thực tiễn, tăng phối hợp giữa nhà trường với cơ quan quản lý, doanh nghiệp, thiết chế văn hóa và địa phương. Cùng với chuyên môn, cần đặc biệt chú trọng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, bản lĩnh văn hóa, đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm xã hội và năng lực thích ứng với môi trường số, bởi đây là những phẩm chất rất quan trọng đối với đội ngũ làm văn hóa trong giai đoạn mới.

Hoạt động ngoại khóa của sinh viên Trường đại học Văn hóa Hà Nội.

Phóng viên: Từ góc độ cơ sở đào tạo và nghiên cứu, nhà trường có những giải pháp, kiến nghị cụ thể như thế nào nhằm chuyển hóa các quan điểm của Nghị quyết số 80-NQ/TW thành chính sách, chương trình hành động cụ thể đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực văn hóa?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn: Từ góc độ cơ sở đào tạo và nghiên cứu, tôi cho rằng có mấy nhóm giải pháp và kiến nghị cần được chú trọng.

Thứ nhất là cần đẩy nhanh thể chế hóa Nghị quyết số 80 trong lĩnh vực đào tạo và phát triển nguồn nhân lực văn hóa, theo hướng đồng bộ, liên thông, gắn kết giữa chính sách giáo dục-đào tạo với chiến lược phát triển văn hóa, công nghiệp văn hóa, chuyển đổi số và thị trường lao động văn hóa. Các cơ sở đào tạo cần có cơ chế đủ linh hoạt để cập nhật chương trình, mở ngành hoặc chuyên đề mới, phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

Thứ hai là cần xây dựng khung năng lực mới cho nhân lực văn hóa trong kỷ nguyên số. Khung năng lực này không chỉ bao gồm kiến thức chuyên môn, mà phải tích hợp năng lực quản trị, công nghệ, dữ liệu, truyền thông đa nền tảng, bản quyền số, hợp tác quốc tế và đổi mới sáng tạo. Trên cơ sở đó, chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, hoạt động thực hành và cơ chế đánh giá cũng phải được điều chỉnh tương ứng.

Thứ ba là phải tăng cường liên kết giữa nhà trường với cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, địa phương và các thiết chế văn hóa để biến các kết quả nghiên cứu thành đề án, chương trình hành động, mô hình thực tiễn. Đây cũng là tinh thần mà hội thảo hướng tới: đưa các luận cứ khoa học thành các giải pháp có thể triển khai.

Thứ tư là cần có chính sách mạnh hơn về đầu tư hạ tầng, phát triển đội ngũ giảng viên, thu hút chuyên gia, trọng dụng tài năng, đồng thời, hỗ trợ sinh viên tiếp cận môi trường nghề nghiệp mới. Riêng trong lĩnh vực văn hóa, đào tạo nguồn nhân lực không thể tách rời khỏi hệ sinh thái thực hành sáng tạo, thực hành quản trị và thực hành công nghệ.

Hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Trường.

Phóng viên: Theo ông, vai trò của các thiết chế văn hóa đặc thù, đặc biệt là hệ thống đào tạo như Trường đại học Văn hóa Hà Nội cần được phát huy ra sao để đạt được mục tiêu phát triển văn hóa như Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra?

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đinh Công Tuấn: Để đạt được mục tiêu phát triển văn hóa như Nghị quyết số 80-NQ/TW đặt ra, các thiết chế văn hóa đặc thù đặc biệt là các cơ sở đào tạo như Trường đại học Văn hóa Hà Nội, phải được phát huy ở vai trò trung tâm tri thức, trung tâm đào tạo nhân lực, trung tâm sáng tạo và trung tâm kết nối thực tiễn. Đây không chỉ là nơi truyền thụ kiến thức, mà còn là nơi sản sinh luận cứ khoa học, nuôi dưỡng hệ giá trị, đào tạo chủ thể văn hóa và lan tỏa tinh thần đổi mới trong toàn xã hội.

Trong bối cảnh mới, một cơ sở đào tạo văn hóa cần làm tốt ít nhất ba chức năng. Một là đào tạo đội ngũ nhân lực văn hóa chất lượng cao, có chuyên môn, bản lĩnh và năng lực số. Hai là nghiên cứu, tư vấn chính sách, góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển văn hóa. Ba là kết nối với xã hội, với địa phương, doanh nghiệp, nghệ sĩ, nhà quản lý và cộng đồng để các giá trị văn hóa được chuyển hóa thành hành động cụ thể, thành sản phẩm, thành mô hình phát triển.

Riêng đối với Trường đại học Văn hóa Hà Nội, với vị thế là cơ sở đào tạo đại học lớn của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong các lĩnh vực nhân văn, du lịch, báo chí và thông tin, nhà trường cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong đào tạo, nghiên cứu, kết nối nguồn lực và cập nhật chương trình để đáp ứng yêu cầu mới của Nghị quyết. Nói cách khác, các thiết chế đào tạo phải trở thành một lực lượng trực tiếp tham gia hiện thực hóa chiến lược phát triển văn hóa quốc gia, chứ không chỉ đứng bên ngoài quan sát hay bình luận.

Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này và chúc hội thảo thành công tốt đẹp.

TUYẾT LOAN - NGỌC LIÊN

TIN LIÊN QUAN


















Home Icon VỀ TRANG CHỦ