'Sức mạnh mềm' là nền tảng để xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi biên giới
Trong bối cảnh nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia đặt ra nhiều yêu cầu mới, cùng với việc thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp và Đề án "Xây dựng nền biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân ở khu vực biên giới”, lực lượng Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh đang kiên trì xây dựng “thế trận lòng dân” bằng nhiều mô hình an sinh, dân vận, giáo dục và đối ngoại biên phòng thiết thực.
- Thưa đồng chí, qua thực tiễn công tác bảo vệ biên giới hiện nay, đồng chí nhìn nhận như thế nào về vai trò của “sức mạnh mềm”, đặc biệt là việc xây dựng “thế trận lòng dân”, trong nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia?
Đại tá Dương Văn Dược: Có thể khẳng định, trong điều kiện hiện nay, “sức mạnh mềm” giữ vai trò rất quan trọng trong nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Nếu “sức mạnh cứng” là tổ chức lực lượng, phương tiện, nghiệp vụ, thì “sức mạnh mềm” chính là lòng dân, là niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và lực lượng Bộ đội Biên phòng. Đây là yếu tố nền tảng để tạo nên thế trận biên phòng toàn dân vững chắc.
Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 28/9/2018 của Bộ Chính trị về “Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia”, Luật Biên phòng Việt Nam xác định Nhân dân là chủ thể, mỗi người dân biên giới là “cộtt mốc sống” có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Vì vậy, xây dựng “thế trận lòng dân” không chỉ là một yêu cầu chính trị, mà còn là giải pháp có ý nghĩa chiến lược, lâu dài.
- Trong nhiều năm qua, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã triển khai nhiều chương trình, mô hình, phong trào an sinh xã hội nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân khu vực biên giới, như “Nâng bước em tới trường – Con nuôi đồn Biên phòng”, “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”… Theo đồng chí, những chương trình, mô hình, phong trào này đã góp phần như thế nào vào việc củng cố niềm tin và sự gắn bó giữa quân với dân ở khu vực biên giới?

Đại tá Dương Văn Dược, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Ban Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh.
Đại tá Dương Văn Dược: Điều chúng tôi cảm nhận rõ nhất sau nhiều năm triển khai các chương trình, mô hình đó là niềm tin của nhân dân với lực lượng Bộ đội Biên phòng ngày càng được củng cố. Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng ngoài thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao còn chủ động, tích cực tham mưu, tham gia phát triển kinh tế, xã hội ở địa bàn khu vực biên giới, đến từng nhà dân, chăm lo cho học sinh nghèo, phụ nữ khó khăn, người già neo đơn, thì mối quan hệ quân - dân không còn là khẩu hiệu mà trở thành tình cảm gắn bó rất cụ thể, rất chân thành.
Chẳng hạn, với Chương trình “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng”, từ năm 2016 đến nay, cán bộ, chiến sĩ trong toàn lực lượng đã trích một phần lương, phụ cấp của mình để hỗ trợ các em học sinh nghèo, học sinh mồ côi ở khu vực biên giới. Mỗi năm trao 148 suất học bổng, trong đó có học sinh Việt Nam, học sinh Campuchia phía đối diện và các cháu là con nuôi đồn biên phòng, với tổng trị giá 888 triệu đồng. Tính đến nay đã trao trên 1.495 suất học bổng, trị giá trên 9 tỷ đồng.
Điều đáng mừng là qua 10 năm thực hiện, đã có 5 em tốt nghiệp đại học, cao đẳng, có em tốt nghiệp cao đẳng sư phạm đã trở về chính quê hương mình để giảng dạy. Đó là kết quả rất ý nghĩa, bởi chương trình không chỉ giúp các em có cơ hội đến trường mà còn góp phần nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực cho địa phương, vun đắp tình quân dân và cả tình đoàn kết hữu nghị hai bên biên giới.
Hay như mô hình “Lớp học tình thương”, chúng tôi đã phối hợp tổ chức và trực tiếp giảng dạy 99 lớp, phổ cập giáo dục, xóa mù chữ cho 1.243 học sinh; hiện vẫn duy trì 11 lớp với 137 học sinh. Bên cạnh dạy chữ, Bộ đội Biên phòng còn trao 701 xe đạp, sách vở, quần áo, dụng cụ học tập cho học sinh với tổng trị giá khoảng 1,85 tỷ đồng. Nhiều em biết đọc, biết viết, sau một thời gian học tại lớp, một số em đủ kiến thức để tiếp tục học tại trường phổ thông, góp phần kéo giảm tình trạng trẻ em lao động sớm, lang thang hoặc bỏ học.
Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản” cũng để lại dấu ấn rất sâu đậm. Lực lượng đã vận động, phối hợp trao tặng nhiều căn nhà, hàng nghìn phần quà, suất khám bệnh, học bổng, gạo, cờ Tổ quốc cho hộ nghèo, hộ khó khăn, gia đình chính sách, với tổng giá trị trên 5 tỷ đồng. Những việc làm ấy giúp bà con cảm nhận rõ hơn sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Quân đội, từ đó càng thêm tin tưởng, gắn bó với lực lượng làm nhiệm vụ nơi biên giới.
- Thực tế cho thấy vẫn còn một số vướng mắc cản trở hoạt động của người lính biên phòng. Đồng chí nhìn nhận vấn đề đó như thế nào, và đâu là hướng tháo gỡ trong thời gian tới?
Đại tá Dương Văn Dược: Bên cạnh những kết quả tích cực, chúng tôi cũng nhìn nhận rất rõ những khó khăn hiện nay. So với mặt bằng chung của tỉnh, đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận nhân dân khu vực biên giới vẫn còn khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều; sau sáp nhập địa bàn biên giới rộng, dân cư phân tán… đã ảnh hưởng trực tiếp đến công tác triển khai các mô hình, chương trình ở cơ sở.
Về hướng tháo gỡ, chúng tôi xác định trước hết phải tiếp tục quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng, cũng như các chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Đồng thời, phải nâng cao chất lượng tham mưu, phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành, đoàn thể, cấp ủy, chính quyền địa phương để triển khai hiệu quả hơn nữa các mô hình, chương trình, phong trào gắn với thực tiễn từng địa bàn.
Chúng tôi cũng đặc biệt coi trọng việc rà soát, lựa chọn mô hình phù hợp, tránh dàn trải, hình thức. Mô hình nào thực sự hiệu quả thì tiếp tục nhân rộng; mô hình nào cần điều chỉnh thì mạnh dạn đổi mới cách làm. Cùng với đó là làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, kịp thời động viên, khen thưởng, tôn vinh các tập thể, cá nhân có cách làm sáng tạo để tạo sức lan tỏa trong toàn lực lượng và trong nhân dân.

Hội nghị tổng kết các mô hình, chương trình, phong trào của Bộ đội Biên phòng tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở khu vực biên giới giai đoạn 2015 - 2025
- Trong bối cảnh tình hình an ninh biên giới còn nhiều yếu tố phức tạp, việc kết hợp giữa nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền với phát triển kinh tế - xã hội và chăm lo đời sống nhân dân được Bộ đội Biên phòng tỉnh Tây Ninh triển khai như thế nào để vừa giữ vững biên giới, vừa ổn định đời sống đồng bào vùng biên?
Đại tá Dương Văn Dược: Quan điểm của chúng tôi là bảo vệ biên giới phải gắn chặt với chăm lo dân sinh và phát triển kinh tế - xã hội. Khi người dân có cuộc sống ổn định, có sinh kế, có điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, có niềm tin với chính quyền và lực lượng chức năng thì đó chính là “cột mốc sống”, là nền tảng để giữ vững chủ quyền biên giới từ cơ sở.
Thời gian qua, cùng với việc trực tiếp triển khai các mô hình an sinh, dân vận, Bộ đội Biên phòng tỉnh cũng chủ động tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh nhiều chủ trương, giải pháp ưu tiên đầu tư hạ tầng thiết yếu ở khu vực biên giới. Nhờ đó, đã có gần 400km đường tuần tra biên giới được thảm nhựa, bê tông hóa; 19/19 xã biên giới có đường ô tô đến trung tâm xã; 25/25 đồn biên phòng có điện lưới quốc gia và nước sạch. Hệ thống trường học, trạm y tế ở các xã biên giới cũng từng bước được chuẩn hóa, góp phần cải thiện rõ điều kiện sống của người dân.
Song song đó, chúng tôi phối hợp với các ngành, đoàn thể, mạnh thường quân trong và ngoài tỉnh triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ thiết thực. Toàn lực lượng đã tham gia tặng 48 căn nhà, 6 cầu giao thông nông thôn, trao sinh kế cho 147 hội viên phụ nữ khó khăn, khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho 6.548 lượt người, tặng 31.454 phần quà, 12.000 suất cháo, 17.250kg gạo, 411 con bò, 11.055 lá cờ Tổ quốc cùng nhiều hỗ trợ khác, với tổng trị giá các chương trình, mô hình trên 32 tỷ đồng.
Một nội dung rất quan trọng khác là phát huy vai trò của nhân dân trong bảo vệ biên giới. Thông qua Phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới”, đến nay đã có 95 tập thể, 4.280 hộ gia đình, 9.929 cá nhân đăng ký tự quản 258,719km đường biên và 523/624 mốc quốc giới. Cùng với đó, mô hình “Tiếng kẻng vùng biên” với 2.226 tổ an ninh trật tự, 21.968 thành viên tham gia đã thực sự trở thành “tai mắt”, “cánh tay nối dài” hỗ trợ lực lượng chức năng giữ gìn an ninh trật tự ngay từ địa bàn cơ sở.
Chúng tôi cũng đặc biệt chú trọng xây dựng hệ thống chính trị cơ sở và công tác đối ngoại biên phòng. Bộ đội Biên phòng tỉnh đã giới thiệu 21 đồng chí tham gia cấp ủy các xã biên giới, 237 đảng viên tham gia sinh hoạt tại 189 chi bộ ấp, cử 555 đảng viên phụ trách 2.170 hộ gia đình. Đồng thời, tham mưu thực hiện kết nghĩa 8 xã của Việt Nam với 17 xã Campuchia đối diện và 1 cụm dân cư hai bên biên giới, qua đó góp phần xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
- Xin đồng chí chia sẻ quan điểm về loạt bài “Sức mạnh mềm nơi biên giới” của Báo Pháp luật Việt Nam, cũng như vai trò phối hợp của báo chí trong công tác tuyên truyền về nhiệm vụ bảo vệ biên giới trong thời gian qua?
Đại tá Dương Văn Dược: Tôi cho rằng loạt bài “Sức mạnh mềm ở biên giới” là một hướng tiếp cận rất đúng, rất cần thiết và có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay. Bởi bảo vệ biên giới hôm nay không chỉ là câu chuyện của lực lượng chuyên trách, mà là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Khi báo chí đi sâu phản ánh những mô hình hay, cách làm hiệu quả, những hy sinh thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ và sự đồng hành của đồng bào vùng biên, thì đó chính là cách lan tỏa nhận thức đúng đắn, khơi dậy tinh thần trách nhiệm xã hội đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền Tổ quốc.
Tôi đánh giá cao việc Báo Pháp luật Việt Nam đã lựa chọn chủ đề này để triển khai thành loạt bài có chiều sâu. Những tác phẩm như vậy không chỉ góp phần tôn vinh hình ảnh người lính biên phòng, mà còn giúp bạn đọc hiểu rõ hơn rằng phía sau sự bình yên nơi biên cương là rất nhiều công việc âm thầm, bền bỉ, từ tuyên truyền pháp luật, giúp dân phát triển kinh tế, chăm lo học sinh nghèo, đến xây dựng thế trận lòng dân và giữ gìn khối đại đoàn kết ở khu vực biên giới.
Đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng, báo chí luôn là kênh tuyên truyền rất quan trọng. Sự đồng hành của báo chí trong thời gian qua đã góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, các mô hình hiệu quả của lực lượng biên phòng đến gần hơn với nhân dân. Đồng thời, báo chí cũng là cầu nối phản ánh tâm tư, nguyện vọng, khó khăn của đồng bào vùng biên, qua đó giúp các cơ quan chức năng có thêm thông tin để điều chỉnh chính sách, giải pháp phù hợp hơn với thực tiễn.
Chúng tôi mong muốn thời gian tới tiếp tục nhận được sự phối hợp chặt chẽ, trách nhiệm, nhân văn của các cơ quan báo chí, trong đó có Báo Pháp luật Việt Nam. Cùng với lực lượng Bộ đội Biên phòng, báo chí sẽ tiếp tục lan tỏa những giá trị tích cực, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, xây dựng nền biên phòng toàn dân vững mạnh và bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.
- Xin trân trọng cảm ơn đồng chí!
PV
5 giờ trước
7 giờ trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
10 ngày trước
12 ngày trước
15 ngày trước
16 ngày trước
16 ngày trước
16 ngày trước
3 giờ trước
1 giờ trước
Vừa xong
1 phút trước
5 phút trước
8 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
10 phút trước
12 phút trước
16 phút trước
23 phút trước
23 phút trước