Sức khỏe học đường: Gỡ điểm nghẽn để chính sách đi vào thực tế
Sáng 11.8, dưới sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, Báo Giáo dục và Thời đại tổ chức Hội thảo “Đồng hành - Kiến tạo tương lai”, tập trung trao đổi về truyền thông, kết nối và huy động nguồn lực xã hội để triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035.

Quang cảnh Hội thảo “Đồng hành - Kiến tạo tương lai”
Kết nối nguồn lực xã hội cho sức khỏe học đường
Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 973/QĐ-TTg ngày 1.6.2026. Tiếp đó, ngày 9.7.2026, Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số 1991/QĐ-BGDĐT về Kế hoạch triển khai Chương trình trong toàn ngành Giáo dục.
Khác với những chương trình can thiệp vào từng vấn đề riêng lẻ, Chương trình lần này hướng tới chăm sóc toàn diện sức khỏe thể chất, tinh thần và các điều kiện phát triển của người học. Phạm vi thực hiện bao gồm y tế trường học, dinh dưỡng, giáo dục thể chất, sức khỏe tâm thần, phòng bệnh, an toàn trường học và quản lý dữ liệu sức khỏe.
Tầm vóc của Chương trình đặt ra yêu cầu đồng bộ nguồn lực từ chính sách, nhân lực, cơ sở vật chất, chuyên môn đến tài chính và công nghệ. Tuy nhiên, điều kiện triển khai tại nhiều cơ sở giáo dục vẫn còn khoảng cách đáng kể so với mục tiêu.
Theo ông Hoàng Đức Minh, Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT, trong giai đoạn 2019-2025, điều kiện nhân lực, cơ sở vật chất và thiết bị phục vụ chăm sóc sức khỏe người học đã được cải thiện, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt tại khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Ông Hoàng Đức Minh, Vụ trưởng Vụ Học sinh, sinh viên, Bộ GD&ĐT báo cáo đề dẫn tại Hội thảo
Tỉ lệ nhân viên y tế trường học chuyên trách tại khối mầm non, phổ thông mới đạt 50,7%; trong số này, chỉ khoảng 30% có chuyên môn y tế. Tỉ lệ được bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của Bộ Y tế đạt 38,5%. Khoảng 80% cơ sở giáo dục có phòng y tế riêng, thiết bị sơ cấp cứu thông thường và thuốc thiết yếu.
Hệ thống chính sách về chăm sóc sức khỏe người học, dinh dưỡng học đường cũng chưa hoàn thiện đầy đủ. Việc quản lý sức khỏe, giám sát bữa ăn học đường, phối hợp giữa gia đình và nhà trường tại một số nơi chưa hiệu quả. Cơ sở dữ liệu sức khỏe và sổ sức khỏe điện tử của người học chưa được hoàn thiện; chưa có công cụ thống nhất để xây dựng thực đơn cân bằng dinh dưỡng và theo dõi kết quả thực hiện.
Để đồng bộ nguồn lực, ông Hoàng Đức Minh cho rằng cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về vị trí việc làm, định mức nhân lực y tế trường học, danh mục thiết bị và thuốc thiết yếu; đồng thời xây dựng quy định về giáo dục dinh dưỡng, tổ chức bữa ăn bán trú và các công cụ quản lý sức khỏe người học.
Cùng với hoàn thiện chính sách là yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số, chuẩn hóa sản phẩm truyền thông, xây dựng các mô hình trường học an toàn, nâng cao sức khỏe và y tế trường học thân thiện. Việc huy động nguồn lực xã hội phải có cơ sở pháp lý rõ ràng, phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ của Chương trình.

Ông Triệu Ngọc Lâm, Tổng Biên tập Báo Giáo dục và Thời đại trao đổi về việc đưa chính sách vào cuộc sống
Đối với việc đưa chính sách vào cuộc sống, ông Triệu Ngọc Lâm, Tổng Biên tập Báo Giáo dục và Thời đại, cho rằng vấn đề không chỉ là phổ biến nội dung Chương trình mà phải làm rõ nhu cầu thực tế, tạo sự kết nối giữa chính sách với từng nhà trường, địa phương và người học.
Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng đa dạng, nguồn lực ngân sách nhà nước có giới hạn, việc huy động sự tham gia của xã hội là cần thiết. Tuy nhiên, bài toán không chỉ nằm ở việc huy động được bao nhiêu, mà quan trọng hơn là nguồn lực có đến đúng nơi cần thiết, được sử dụng minh bạch và tạo ra hiệu quả có thể đánh giá hay không.
Thực tế cho thấy, cơ chế tiếp nhận và sử dụng nguồn lực trong trường học chưa thật sự thống nhất. Nhiều cơ sở giáo dục hiểu nhu cầu của học sinh nhưng chưa có đủ dữ liệu hoặc năng lực chuyển nhu cầu thành đề xuất cụ thể. Thiếu cơ chế điều phối, nguồn lực có thể tập trung vào những nơi thuận lợi trong kết nối thay vì những địa bàn có nhu cầu cấp thiết hơn.
Bởi vậy, xã hội hóa sức khỏe học đường không nên được hiểu đơn giản là kêu gọi thêm kinh phí. Nguồn lực xã hội có thể là chuyên gia, nhân lực tư vấn, trang thiết bị, công nghệ, phần mềm, đào tạo và năng lực tổ chức. Việc huy động phải xuất phát từ nhu cầu thực tế, có mục tiêu, đối tượng và kết quả cần đạt.
Dữ liệu giữ vai trò quan trọng trong quá trình này. Khi có thông tin đầy đủ về tình trạng sức khỏe, điều kiện cơ sở vật chất, nhân lực và nhu cầu của từng nhóm học sinh, nguồn lực mới có thể được điều phối chính xác và công bằng. Dữ liệu đồng thời là căn cứ để theo dõi, đánh giá hiệu quả và củng cố niềm tin của phụ huynh, doanh nghiệp, tổ chức xã hội.
Để chính sách tạo chuyển biến, các mục tiêu quốc gia phải được cụ thể hóa thành hoạt động thường xuyên tại từng nhà trường, lấy học sinh làm trung tâm và được theo dõi, đánh giá bằng dữ liệu.
Việc huy động nguồn lực cũng cần được đặt trong cơ chế phối hợp rõ ràng, đúng nhu cầu và đúng khâu. Nhu cầu, tiêu chí lựa chọn, quá trình sử dụng và kết quả mang lại phải được công khai, giám sát; tránh tình trạng tài trợ sai mục tiêu, xung đột lợi ích hoặc biến các hoạt động trong trường học thành quảng cáo trá hình.
Kinh nghiệm quốc tế, bài học từ thực tiễn
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, ban hành chính sách chưa đồng nghĩa với triển khai thành công. Những mục tiêu trong văn bản phải được cụ thể hóa thành trách nhiệm, nguồn ngân sách, năng lực đội ngũ, công cụ thực hiện tại trường học và cơ chế giải trình.

Các đại biểu tham gia Toạ đàm
Bà Jenelle Babb, Cố vấn khu vực về Giáo dục vì Sức khỏe và Phát triển toàn diện, Văn phòng khu vực UNESCO tại Bangkok, cho rằng sức khỏe học đường phải được xác định là một ưu tiên của giáo dục, không phải hoạt động bổ sung nằm ngoài nhiệm vụ của nhà trường.
Ngành Giáo dục giữ vai trò chủ trì việc tích hợp các nội dung sức khỏe vào trường học và hệ thống giáo dục; ngành Y tế hỗ trợ về tiêu chuẩn kỹ thuật, dịch vụ chuyên môn và quy trình chuyển tuyến. Trường học không phải là nơi triển khai rời rạc các can thiệp y tế, cũng không phải “cánh tay nối dài” để thực hiện nhiệm vụ khám, chữa bệnh.
Theo UNESCO, rất ít quốc gia triển khai thành công mô hình trường học nâng cao sức khỏe trên quy mô lớn. Một trong những nguyên nhân là chính sách chưa được chuyển thành yêu cầu tối thiểu, nguồn tài chính và công cụ thực hiện phù hợp với điều kiện của từng nhà trường.
Các trường học cũng cần sự hỗ trợ thực tiễn, không chỉ là những đợt tập huấn. Đó là tư vấn chuyên môn, công cụ triển khai, cơ chế phối hợp, nguồn tài chính ổn định và khả năng học hỏi kinh nghiệm giữa các cơ sở giáo dục.
Việc xây dựng chương trình cần kế thừa những nền tảng sẵn có, tránh tạo thêm các sáng kiến song song. Các mô hình mới nên được thử nghiệm ở nhiều địa bàn khác nhau để đánh giá tính khả thi, khối lượng công việc, chi phí và khả năng bảo đảm công bằng trước khi áp dụng rộng.
Tại Việt Nam, mô hình điểm “Bữa ăn học đường bảo đảm dinh dưỡng hợp lý kết hợp tăng cường hoạt động thể lực cho trẻ em, học sinh, sinh viên” là một kinh nghiệm thực tiễn đáng chú ý trong lĩnh vực dinh dưỡng học đường.
Trong năm học 2020-2021, mô hình được thực hiện tại 10 tỉnh, thành phố, đại diện cho 5 vùng sinh thái. Trên cơ sở khảo sát điều kiện kinh tế - xã hội, cách tổ chức bán trú và tình trạng dinh dưỡng, các chuyên gia đã xây dựng 400 thực đơn phù hợp với lứa tuổi, mùa và vùng miền, kết hợp với hệ thống bài tập, trò chơi vận động.
Sau một năm triển khai, mô hình ghi nhận những chuyển biến tích cực về chiều cao, cân nặng, tình trạng dinh dưỡng và nhận thức của học sinh, phụ huynh, giáo viên. Kết quả này cho thấy những can thiệp được thiết kế trên cơ sở khoa học, phù hợp với điều kiện địa phương và có cơ chế phối hợp có thể tạo ra thay đổi.
Mô hình này cho thấy chăm sóc sức khỏe học đường cần được xác định là nhiệm vụ quan trọng và triển khai toàn diện, từ dinh dưỡng, vận động thể lực đến phòng bệnh, sức khỏe tâm thần và xây dựng môi trường học tập an toàn.

Ông Nguyễn Vĩnh Thanh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn tại địa phương
Chia sẻ tại Hội thảo, ông Nguyễn Vĩnh Thanh, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT tỉnh Bắc Ninh, cho biết Bắc Ninh đã hình thành cơ chế phối hợp giữa ngành Giáo dục với ngành Y tế, Bảo hiểm xã hội, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cơ quan báo chí. Nguồn lực được huy động không chỉ bằng kinh phí mà còn thông qua đào tạo nhân lực, tư vấn tâm lý, khám sức khỏe, trang thiết bị và truyền thông.
Tỉnh đang thực hiện chính sách hỗ trợ 50% mức đóng bảo hiểm y tế đối với học sinh thuộc diện phải tự tham gia. Chương trình Sữa học đường được triển khai với cơ cấu ngân sách tỉnh hỗ trợ 50%, doanh nghiệp hỗ trợ 25% và phụ huynh đóng góp 25%; phần đóng góp của phụ huynh đối với trẻ thuộc hộ nghèo, cận nghèo và đối tượng chính sách được ngân sách hỗ trợ.
Tuy nhiên, Bắc Ninh cũng nhìn nhận kinh phí tổ chức bữa ăn bán trú vẫn chủ yếu do cha mẹ học sinh chi trả. Công tác truyền thông chưa hình thành được mạng lưới thường xuyên, đa nền tảng; nguồn lực an sinh cần tiếp tục được mở rộng để bảo đảm cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe giữa các nhóm học sinh.
Những kinh nghiệm trên cho thấy, không có một mô hình chung có thể áp dụng giống nhau cho mọi địa phương. Chính sách cần xác định những yêu cầu tối thiểu phải được bảo đảm trên phạm vi toàn quốc, đồng thời tạo không gian để địa phương lựa chọn cách tổ chức phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu của học sinh.
Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 đã tạo ra khuôn khổ chính sách cho việc chăm sóc toàn diện sức khỏe người học. Để chính sách đi vào cuộc sống, nguồn lực phải được xác định từ nhu cầu, điều phối bằng dữ liệu và giám sát bằng kết quả; trong đó lợi ích và sự phát triển toàn diện của học sinh phải là điểm xuất phát, đồng thời là thước đo cuối cùng.
HOÀNG HƯƠNG
31 phút trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước
6 giờ trước
2 ngày trước
1 giờ trước
14 phút trước
11 phút trước
12 phút trước
24 phút trước
30 phút trước
37 phút trước
1 giờ trước