Sửa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo: Cần đảm bảo không gian sinh kế cho phụ nữ ven biển

Công việc của phụ nữ vùng biển luôn bắt đầu từ sáng sớm. Ảnh minh họa
Không gian biển thu hẹp và gánh nặng sinh kế đối với lao động nữ
Tờ mờ sáng, tại nhiều vùng bãi ngang thuộc tỉnh Nam Định, hình ảnh những người phụ nữ gánh thúng ra bãi biển đón chuyến mảng đầu tiên về bờ đã trở nên quen thuộc từ bao đời nay. Thế nhưng hiện nay, không ít con đường mòn dẫn ra bến cá truyền thống đã bị dựng rào tôn chắn ngang để phục vụ các dự án đô thị, du lịch nghỉ dưỡng mới. Muốn gánh hải sản về chợ hay gánh nước ngọt sinh hoạt từ giếng làng về nhà, các chị phải đi vòng thêm gần 3 cây số dưới cái nắng gắt. Bước chân đi vòng thêm xa, đôi gánh trên vai thêm trĩu nặng, đong đếm trọn vẹn những nhọc nhằn của người phụ nữ vùng ven biển.
Theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sự bùng nổ của các dự án công nghiệp, du lịch nghỉ dưỡng ven biển tại nhiều địa phương thời gian qua đã vô tình làm thu hẹp nghiêm trọng không gian tiếp cận biển của cộng đồng. Sự "chia cắt" này tác động mạnh nhất vào lực lượng lao động nữ tại các vùng bãi ngang, dải đất ven biển và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Tại nhiều làng quê ven biển, phụ nữ chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động ngư nghiệp và đảm nhiệm hầu hết các công việc phi chính thức (bóc tôm, đan lưới, thu gom hải sản, kinh doanh dịch vụ du lịch nhỏ). Khi không gian biển bị thu hẹp hoặc chịu áp lực từ ô nhiễm rác thải nhựa đại dương và biến đổi khí hậu, gánh nặng lo toan cho bữa ăn gia đình và chuyển đổi việc làm bị đẩy ngược về phía người phụ nữ. Thiếu các cơ chế chính thức bảo vệ khiến nhóm lao động nữ này dễ rơi vào tổn thương trước các biến động môi trường và thể chế.
Đặt sinh kế người dân và ngư dân làm trung tâm thể chế

Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) bổ sung quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hệ thống hồ sơ quản lý dữ liệu biển.
Không chỉ nhóm lao động tự do chịu ảnh hưởng từ việc mất không gian tiếp cận, các hộ gia đình trực tiếp đầu tư nuôi hải sản ven bờ tại khu vực miền Trung và Nam Bộ cũng đang đứng trước những rào cản thể chế chực chờ. Hàng trăm hộ dân dồn toàn bộ vốn liếng tích góp nhiều năm để dựng lồng nuôi bè cá ở vùng biển gần bờ vẫn nơm nớp lo sợ mỗi khi nghe tin có quy hoạch dự án mới. Dù bỏ ra hàng trăm triệu đồng đầu tư, họ vẫn không thể thế chấp lồng bè vay vốn ngân hàng hay yên tâm mở rộng quy mô, chỉ vì thiếu giấy xác nhận quyền sử dụng khu vực biển.
Để tháo gỡ "điểm nghẽn" này cho người dân, ông Nguyễn Xuân Lam, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng việc Dự thảo Luật bổ sung quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hệ thống hồ sơ quản lý dữ liệu biển chính là bước tiến rất quan trọng. Quy định mới sẽ xác lập quyền tài sản rõ ràng, tạo cơ sở pháp lý minh bạch để người nuôi biển tự tin mở rộng sản xuất và tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng.
Tuy nhiên, ông Lam cũng thẳng thắn chỉ ra gánh nặng tài chính khi mức thu tiền sử dụng mặt nước tại nhiều địa phương hiện dao động từ 4 - 7,5 triệu đồng/ha, con số quá lớn với một lĩnh vực chịu nhiều rủi ro thiên tai. "Cần nghiên cứu cơ chế miễn, giảm tiền thuê mặt biển cho người dân tương tự chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trước đây, giúp người dân và phụ nữ ven biển giảm bớt áp lực chi phí, yên tâm bám biển sản xuất," Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam đề xuất.

PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, ĐBQH Khóa XIV, XV, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam
Sở dĩ bài toán chi phí và mặt nước trở nên căng thẳng là bởi sự đan xen phức tạp giữa các ngành kinh tế trên cùng một dải bờ. Phân tích về nguy cơ này, PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, ĐBQH Khóa XIV, XV, Phó Chủ tịch Hội Thủy sản Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu cốt lõi của đợt sửa đổi lần này là phải chuyển mạnh từ phương thức quản lý đơn ngành sang quản lý tổng hợp, liên ngành. Theo ông, chỉ khi xử lý triệt để các xung đột trong khai thác không gian biển mới có thể cân bằng được lợi ích giữa các dự án kinh tế quy mô lớn với sinh kế cốt lõi của cộng đồng cư dân ven bờ.
Đồng quan điểm về tính đồng bộ, bà Nguyễn Thị Mai Phương, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội lưu ý cơ quan soạn thảo phải rà soát kỹ lưỡng để tránh chồng chéo giữa Dự thảo Luật với các đạo luật nền tảng như Luật Đất đai, Luật Quy hoạch và Luật Bảo vệ môi trường. Đặc biệt, đại diện cơ quan lập pháp nhấn mạnh việc xây dựng các quy định chuyển tiếp phù hợp chính là "chìa khóa" để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp không bị đứt gãy, giúp chính sách thực sự khả thi khi đi vào cuộc sống.
Hướng tới hệ thống pháp luật đồng bộ, vì sự phát triển bền vững của phụ nữ
Về phía cơ quan chủ trì soạn thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp khẳng định: Tinh thần xuyên suốt của đợt sửa đổi lần này là chuyển mạnh từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản trị tổng hợp không gian biển dựa trên dữ liệu số, chuyển dứt khoát từ tư duy "không quản được thì cấm" sang mở ra không gian phát triển mới, hài hòa giữa bảo tồn và phát triển.
Việc thể chế hóa "quyền tiếp cận biển", hỗ trợ tín dụng và chính sách miễn giảm tiền thuê mặt nước sẽ là chìa khóa quan trọng giúp lực lượng lao động nữ ven biển nâng cao năng lực thích ứng. Qua đó, tạo điều kiện để phụ nữ chủ động tham gia vào các chuỗi giá trị kinh tế biển xanh, từ du lịch sinh thái cộng đồng, nuôi biển công nghệ cao đến chế biến hải sản sạch và bảo vệ môi trường biển.

Theo kế hoạch, Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) sẽ được trình Quốc hội khóa XVI cho ý kiến vào tháng 10/2026. Việc tiếp thu nghiêm túc các góc nhìn từ thực tiễn sinh kế của người dân, ngư dân và các chuyên gia sẽ là nền tảng vững chắc để hoàn thiện một bộ luật chất lượng, nơi phát triển kinh tế biển luôn gắn liền với bảo đảm an sinh xã hội bền vững cho từng hộ gia đình ven biển.
Kim Thanh
2 giờ trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước