🔍
Chuyên mục: Chứng khoán

SSI Research: Đà hưng phấn nhiều khả năng sẽ suy yếu khi bước sang nửa sau của tháng 4

1 giờ trước
Dù mặt bằng định giá hiện tại đã trở nên hấp dẫn hơn đáng kể và ngày càng thuyết phục trên cơ sở so sánh tương đối, rủi ro điều chỉnh giảm trong ngắn hạn vẫn chưa thể loại bỏ hoàn toàn và có thể chưa được phản ánh đầy đủ vào giá cổ phiếu.

SSI Research vừa có báo cáo cập nhật triển vọng thị trường chứng khoán tháng 4 trong đó nhấn mạnh sau nhịp phục hồi từ vùng đáy giữa tháng 3, thị trường trong nửa đầu tháng 4 có thể tiếp tục được hỗ trợ bởi một số yếu tố tích cực.

Các yếu tố này bao gồm: kỳ vọng tăng trưởng lợi nhuận Q1/2026 tương đối khả quan, kết quả FTSE Russell sáng nay đã chính thức công bố nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên nhóm mới nổi thứ cấp, triển vọng hạ nhiệt chiến tranh giữa Mỹ - Israel và Iran, cùng với kỳ vọng của nhà đầu tư về Chính phủ nhiệm kỳ mới.

Tuy nhiên, khả năng biến động của thị trường vẫn ở mức cao. Đà hưng phấn nhiều khả năng sẽ suy yếu khi bước sang nửa sau của tháng. Yếu tố mùa vụ trong lịch sử cũng cho thấy tháng 4 thường là giai đoạn thận trọng của thị trường, khi tỷ lệ cổ phiếu tăng giá trung bình chỉ đạt khoảng 47,7% – mức thấp thứ hai trong năm, chỉ cao hơn tháng 10.

Hiện tượng “trũng” theo mùa này thường xuất phát từ việc thị trường đã có sự hấp thụ nhất định về kế hoạch kinh doanh sau mùa Đại hội cổ đông, đồng thời xuất hiện hoạt động chốt lời trong giai đoạn công bố kết quả kinh doanh quý 1.

Bên cạnh đó, SSI Research dự báo tốc độ tăng trưởng lợi nhuận có thể chậm lại trong quý 2, do chịu tác động từ mặt bằng giá nhiên liệu và lãi suất duy trì ở mức cao, cùng với hiệu ứng nền so sánh cao của Q2/2025 với lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ (NPATMI) đã tăng mạnh 33,5% so với cùng kỳ (so với mức tăng 22,9% của cả 6 tháng đầu năm 2025).

Các yếu tố này kết hợp với kỳ nghỉ lễ kéo dài vào cuối tháng, có thể làm giảm mức độ tham gia của nhà đầu tư và thu hẹp thanh khoản, từ đó khiến thị trường xuất hiện thêm các nhịp biến động mang tính ngắn hạn.

Trong khi đó, diễn biến tại eo biển Hormuz tiếp tục là yếu tố then chốt đối với triển vọng nguồn cung năng lượng tại châu Á. Dù căng thẳng giữa Mỹ – Israel và Iran đã xuất hiện một số tín hiệu hạ nhiệt, thời điểm eo biển Hormuz được mở cửa trở lại vẫn còn nhiều bất định.

Khoảng 80-90% lượng dầu thô vận chuyển qua tuyến hàng hải này được xuất sang châu Á, trong đó Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm khoảng 75%. Với vai trò là tuyến vận chuyển huyết mạch đưa dầu thô từ Trung Đông vào Việt Nam, bất kỳ sự phong tỏa kéo dài nào cũng có thể gây ra rủi ro nghiêm trọng đối với an ninh cung ứng xăng dầu trong nước.

Theo số liệu từ Bộ Công Thương, lượng dự trữ xăng dầu hiện tại của Việt Nam được đánh giá là đủ đáp ứng nhu cầu đến hết tháng 5. Tính đến cuối năm 2025, tồn kho đạt khoảng 1,7 triệu m3. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/03, Việt Nam đã nhập khẩu 2,71 triệu tấn xăng dầu, tăng mạnh 42,6% so với cùng kỳ, trong khi nhập khẩu dầu thô đạt 2,79 triệu tấn, giảm 7% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện tại, BSR hiện có đủ dầu thô dự trữ để duy trì sản xuất đến đầu tháng 5/2026; tuy nhiên, giai đoạn tháng 5-6 có thể đối mặt với thách thức cả về sản lượng lẫn chi phí đầu vào. Trong khi đó, NSR có khả năng vận hành tối đa công suất đến hết tháng 3, sau đó duy trì hoạt động đến tháng 5 với mức công suất thấp hơn.

Xét trong trung và dài hạn, việc phong tỏa kéo dài eo biển Hormuz sẽ làm gia tăng rủi ro, đặc biệt với NSR, do nhà máy này phụ thuộc lớn vào nguồn dầu thô từ Kuwait.

Ngược lại, BSR có vị thế thuận lợi hơn nhờ khoảng 70% đầu vào là dầu thô trong nước, cùng với khả năng linh hoạt tiếp cận các nguồn thay thế từ Tây Phi, Địa Trung Hải, Mỹ và một phần Trung Đông. Đáng chú ý, BSR hiện cũng đang đàm phán với các đối tác Nga để nhập dầu thô ESPO, Sokol và Novy Port, đồng thời mở rộng tìm kiếm nguồn cung từ châu Phi, Mỹ và Đông Nam Á nhằm giảm thiểu rủi ro gián đoạn.

Ngoài xăng dầu, xung đột kéo dài cũng tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến nguồn cung khí LNG cho phát điện. Dù điện khí LNG hiện chỉ chiếm dưới 3% trong cơ cấu nguồn điện, tình trạng thiếu hụt LNG có thể trở nên đáng lo ngại trong mùa cao điểm năm 2026, dự kiến từ cuối tháng 4 đến tháng 8. Đây là giai đoạn nhu cầu điện tăng mạnh, trong khi thủy điện và nhiệt điện than đã được khai thác gần mức tối đa, buộc hệ thống phải gia tăng huy động nguồn điện khí.

Tính đến đầu tháng 4/2026, VN-Index đang giao dịch ở mức P/E dự phóng khoảng 12,0x, thấp hơn rõ rệt so với mức trung bình 10 năm là 14,0x. Đồng thời, mức chiết khấu của thị trường Việt Nam so với các thị trường ASEAN cũng đang được nới rộng. Nếu loại trừ nhóm cổ phiếu Vingroup (VIC, VHM, VRE), định giá thị trường thậm chí còn giảm xuống khoảng 10,5x, qua đó hình thành một vùng định giá tương đối hấp dẫn xét trên nền tảng cơ bản.

Tuy nhiên, các pha bán tháo trước đây, như giai đoạn 2020, 2022 và 2025, chỉ số P/E forward đã có thời điểm tạo đáy ở vùng 9-10x. Trong bối cảnh thanh khoản thị trường tiếp tục chịu áp lực và mặt bằng lãi suất đang gia tăng, khi lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng đã vượt 8%, dư địa hỗ trợ từ yếu tố định giá có thể vẫn còn hạn chế.

Do đó, dù mặt bằng định giá hiện tại đã trở nên hấp dẫn hơn đáng kể và ngày càng thuyết phục trên cơ sở so sánh tương đối, rủi ro điều chỉnh giảm trong ngắn hạn vẫn chưa thể loại bỏ hoàn toàn và có thể chưa được phản ánh đầy đủ vào giá cổ phiếu.

Thu Minh

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ