🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

Số hóa di sản, phát huy tối đa các giá trị văn hóa tiềm ẩn

50 phút trước
Đứng trước xu thế chuyển đổi số toàn diện, việc số hóa di sản không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật thuần túy, mà là chiến lược bảo tồn, phát huy giá trị lâu dài.

Nằm trong lộ trình phát triển công nghiệp văn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh, việc ứng dụng công nghệ để bảo tồn và phát huy di sản đang được triển khai mạnh mẽ, quyết liệt. Từ các di tích quốc gia, các loại hình nghệ thuật truyền thống như hát bội, cải lương đến các hiện vật bảo tàng... đều đang được số hóa và trở thành “nhịp cầu” nối ký ức đến tương lai, giúp người trẻ “chạm” vào di sản.

*Chuyển đổi phương thức quản lý

Không còn bó hẹp trong không gian tĩnh của bảo tàng hay đình làng, di sản giờ đây đang tìm con đường mới để sống động hơn, gần gũi hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Đứng trước xu thế chuyển đổi số toàn diện, việc số hóa di sản không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật thuần túy, mà là chiến lược bảo tồn, phát huy giá trị lâu dài và đưa văn hóa Việt vươn ra thế giới. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, việc số hóa di sản đã và đang trở thành nhiệm vụ then chốt trong định hướng phát triển công nghiệp văn hóa giai đoạn mới.

Chợ Bến Thành. Ảnh: TTXVN

Các cơ quan quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động ban hành nhiều chương trình, đề án và kế hoạch hành động cụ thể nhằm đưa tài nguyên di sản tích hợp vào không gian số một cách bài bản, đồng bộ và có lộ trình. Điều này, không chỉ giúp lưu trữ di sản an toàn trước những tác động khốc liệt của thời gian, thời tiết và nguy cơ xuống cấp cơ học, mà quan trọng hơn là tạo nền tảng dữ liệu mở chuẩn hóa để toàn xã hội có thể dễ dàng tiếp cận, khai thác và phát huy các giá trị.

Thông tin về lộ trình số hóa di sản, bà Đinh Thị Thanh Thủy, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết trong năm 2026, Thành phố tập trung số hóa đầy đủ các di tích cấp quốc gia đặc biệt và di tích cấp quốc gia trên địa bàn. Đến năm 2027, toàn bộ các di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh dự kiến sẽ hoàn tất việc số hóa dữ liệu. Đồng thời, địa phương cũng nỗ lực số hóa toàn bộ các mảng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể nhằm giúp công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, nâng cao trải nghiệm và hiểu sâu sắc hơn về di sản.

Việc số hóa hiện vật, tư liệu và di sản phi vật thể là bước chuyển chiến lược về phương thức quản lý để di sản sống động trong đời sống đương đại, đồng thời tái hiện trọn vẹn kho tàng di sản của Thành phố, mở rộng quảng bá và đưa văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng. Đây còn là bước chuẩn bị căn cơ, tạo tiền đề để xây dựng một hệ sinh thái văn hóa số bền vững, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ ngày càng cao của người dân trong thời kỳ mới.

Dưới góc độ bảo tồn, quá trình chuyển đổi số đòi hỏi một sự thay đổi căn bản trong tư duy vận hành, phải mở ra khả năng khai thác, tương tác và phát huy tối đa giá trị các di sản.

Phân tích về bản chất của tiến trình này, Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định, xu hướng số hóa di sản văn hóa không đơn thuần dừng lại ở việc ứng dụng kỹ thuật để lưu giữ thông tin của di tích hay hiện vật. Bản chất của quá trình này là cuộc chuyển đổi về phương thức quản lý di sản, trong đó mục tiêu cốt lõi là đổi mới cách thức vận hành để khai thác và phát huy tối đa các giá trị văn hóa tiềm ẩn bên trong.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Thị Hậu, quá trình số hóa di sản gồm 4 cấp độ nối tiếp nhau: cấp độ 1 là số hóa, chuyển đổi dữ liệu thô (chụp ảnh, quét 3D, ghi âm, tư liệu hóa); cấp độ 2 là đưa dữ liệu lên môi trường internet và nền tảng số; cấp độ 3 là xây dựng không gian tương tác ảo, thực tế tăng cường (AR/VR); và cấp độ 4 là tích hợp hệ thống quản lý, khai thác toàn diện. Sự chuyển đổi đa tầng này đang mang lại nguồn sinh khí hoàn toàn mới cho các loại hình nghệ thuật truyền thống tưởng chừng như đang đứng trước thách thức mai một.

*Đưa di sản đến gần giới trẻ

Nhờ các cấp độ số hóa, nghệ thuật hát bội độc đáo đã dần bước ra khỏi sân đình, cửa miếu, tự tin tiến lên không gian số để tiếp cận và chinh phục người xem trẻ tuổi.

Nghệ sỹ Thanh Bình, Trưởng phòng Tổ chức biểu diễn - Nhà hát Nghệ thuật Hát bội Thành phố Hồ Chí Minh, chia sẻ: “Đơn vị đang tích cực số hóa hệ thống mặt nạ hóa trang, trang phục tuồng cổ, các bài bản âm nhạc và nhiều vở tuồng kinh điển để đưa lên nền tảng số. Không dừng lại ở việc lưu trữ, nhà hát còn xây dựng không gian tương tác ảo giúp khán giả tự do trải nghiệm nghệ thuật vẽ mặt nạ, thiết kế trang phục hay thử nghiệm các loại nhạc cụ dân tộc. Nhờ đó, giới trẻ có cơ hội trực tiếp "chạm" vào di sản, từng bước hiểu và gắn bó hơn với hát bội”.

Song song đó, lực lượng nghệ sỹ trẻ, những người tiếp nối, gìn giữ và thực hành di sản, cũng đang tích cực trở thành những “đại sứ số”. Nghệ sĩ Tâm Tâm, diễn viên Nhà hát Nghệ thuật Hát bội Thành phố Hồ Chí Minh, bộc bạch: “Hồi trước hát bội chỉ diễn ở đình làng, khán giả tại chỗ mới xem được. Bây giờ với số hóa, thế hệ trẻ chúng em có thể quay phim, đăng lên mạng xã hội để khán giả ở khắp mọi nơi trên cả nước và thế giới đều xem được và cảm thấy tự hào về văn hóa Việt Nam”.

Không chỉ dừng lại ở sân khấu truyền thống, việc ứng dụng công nghệ số còn tạo nên bước đột phá lớn trong phục chế các tác phẩm cải lương kinh điển. Sau thành công của tác phẩm phục chế vở “Tiếng trống Mê Linh”, Đài Phát thanh và Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) dự kiến tiếp tục phục chế các vở “vang bóng một thời” như: “Lá sầu riêng” hay “Thái hậu Dương Vân Nga”.

Chia sẻ về hiệu ứng xã hội sau khi phát sóng tác phẩm phục chế “Tiếng trống Mê Linh”, biên tập viên Nguyễn Cẩm Linh (HTV) cho biết, bản phục chế đã níu chân khán giả theo dõi xuyên suốt trong ba tiếng đồng hồ không chuyển kênh, đạt hàng nghìn lượt xem trực tuyến và được nhiều địa phương tổ chức chiếu tập thể. Đáng chú ý, dự án đã kích thích mạnh mẽ tình yêu văn hóa của giới trẻ, nhiều bạn trẻ thậm chí đã chủ động liên hệ, gửi tặng ê-kíp những file tư liệu cá nhân lưu giữ được để đài tiếp tục hoàn thiện các bản phim trọn vẹn hơn.

Trong khi đó, tại hệ thống các bảo tàng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, việc ứng dụng rộng rãi công nghệ số cũng đang mang lại những hiệu quả rõ rệt khi hoàn toàn xóa bỏ mọi giới hạn địa lý. Công chúng bận rộn hay các đoàn du khách quốc tế giờ đây có thể dễ dàng tiếp cận, tham quan và tìm hiểu các bộ sưu tập di sản chỉ qua một cú nhấp chuột.

Như tại Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ, việc đổi mới trưng bày bằng ứng dụng công nghệ 3D và không gian ảo đã thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng trẻ tuổi. Bà Nguyễn Thị Diệu, Phó Giám đốc phụ trách Bảo tàng chia sẻ: “Đơn vị đã số hóa 1.113 hiện vật. Thông qua công nghệ Hologram 3D và tham quan 360 độ trên trang web, khách tham quan, đặc biệt là giới trẻ, rất thích thú khi được tương tác, khám phá. Trong thời gian tới, khi dự án mở rộng hoàn tất, du khách trong và ngoài nước có thể tham quan trực tuyến toàn bộ hệ thống trưng bày mọi lúc, mọi nơi”.

Có thể thấy, số hóa di sản không làm phai mờ đi giá trị quá khứ hay làm giảm tính thiêng liêng vốn có của truyền thống, mà ngược lại, đang thắp sáng ký ức bằng ngôn ngữ sinh động của thời đại mới. Khi di sản được số hóa một cách chuẩn xác, bài bản và bằng tất cả sự trân trọng, đó cũng là lúc văn hóa dân tộc được trao truyền trọn vẹn vào tay thế hệ trẻ, những người sẽ tiếp tục giữ gìn, sáng tạo và lan tỏa di sản Việt Nam vươn xa hơn nữa vào tương lai.

Hữu Duyên/Vnanet.vn

TIN LIÊN QUAN



























Home Icon VỀ TRANG CHỦ