🔍
Chuyên mục: Tài chính

S&I Ratings dự báo lợi nhuận ngành ngân hàng tăng trưởng 16% trong năm 2026, áp lực thanh khoản lớn

6 giờ trước
Theo đơn vị này, sau giai đoạn tín dụng mở rộng mạnh và mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, hệ thống ngân hàng đang đối mặt với áp lực thanh khoản gia tăng.

Áp lực thanh khoản gia tăng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục hưởng lợi từ mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao của Chính phủ, song triển vọng đi kèm không ít thách thức.

Sau giai đoạn tín dụng mở rộng mạnh và mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp, hệ thống ngân hàng đang đối mặt với áp lực thanh khoản gia tăng, NIM vẫn chịu sức ép và rủi ro chất lượng tài sản cần được theo dõi chặt chẽ hơn trong bối cảnh lãi suất trong nước bước vào xu hướng tăng trở lại, trong khi môi trường vĩ mô toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều bất định.

Chuyên gia của S&I Ratings đưa ra những quan điểm tích cực vừa phải đối với triển vọng ngành ngân hàng trong năm 2026 và dự báo tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành đạt 16%.

Room tín dụng vượt trội trở thành lợi thế cạnh tranh

Mục tiêu tăng trưởng tín dụng trong năm 2026 được Ngân hàng nhà nước đưa ra đầu năm vào khoảng 15% (thấp hơn tốc độ tăng thực tế năm 2025 là 19,1%, nhưng tương đương mục tiêu đề ra đầu năm 2022 - 2024). Đáng chú ý, các giới hạn điều hành mới được áp dụng bao gồm kiểm soát tốc độ tăng tín dụng theo quý và yêu cầu tăng trưởng tín dụng lĩnh vực bất động sản không vượt quá tăng trưởng tín dụng chung của từng ngân hàng.

S&I Ratings nhận định, tín dụng bất động sản trong năm 2026 sẽ bước vào giai đoạn hạ nhiệt và tăng trưởng có chọn lọc, thay vì duy trì tăng mạnh như năm 2025. Tuy vậy, bất động sản vẫn là lĩnh vực đóng góp đáng kể vào tăng trưởng dư nợ của hệ thống ngân hàng. Do đó, các động thái điều hành tiếp theo của Ngân hàng Nhà nước đối với lĩnh vực này cần tiếp tục được theo dõi, trước tác động đến triển vọng tăng trưởng toàn ngành.

Sự phân hóa trong hạn mức tín dụng giữa các ngân hàng ngày càng rõ nét trước định hướng điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước. Nhóm ngân hàng tham gia tái cấu trúc các tổ chức tín dụng yếu kém tiếp tục được nhận hạn mức tín dụng vượt trội, trong khi phần lớn các Ngân hàng thương mại khác có room tín dụng hạn chế hơn (khoảng 11-13%) vào đầu năm.

Theo quan điểm của S&I Ratings, trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn ở mức cao, room tín dụng có thể được coi như một “nguồn tài nguyên” trong năm 2026, đặc biệt là đối với tín dụng bất động sản - lĩnh vực đang được kiểm soát chặt chẽ hơn. Nhu cầu vốn sẽ có xu hướng dồn về nhóm ngân hàng có hạn mức tín dụng vượt trội.

NIM tiếp tục chịu áp lực

Việc tín dụng tăng trưởng mạnh mẽ (+19,1%), cao hơn 5% so với tăng trưởng huy động vốn (+14,1%), là nguyên nhân chính tạo áp lực rõ rệt lên thanh khoản hệ thống trong năm 2025. Tỷ lệ LDR toàn ngành đạt mức cao kỷ lục vào cuối quý III/2025 (110%).

Bên cạnh yếu tố chênh lệch về quy mô, cấu trúc kỳ hạn tín dụng cũng tạo áp lực lên nhu cầu vốn. Trong năm 2025, các ngân hàng có xu hướng tái cơ cấu tài sản theo hướng cho vay ở kỳ hạn dài hơn, nhằm cải thiện lợi suất đầu ra & hỗ trợ NIM trong bối cảnh NIM chịu áp lực thu hẹp. Diễn biến này khiến tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn tại nhiều ngân hàng gia tăng, qua đó cũng làm gia tăng nhu cầu huy động vốn.

Thanh khoản hệ thống được hỗ trợ mạnh thông qua kênh thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và tiền gửi Kho bạc nhà nước. Kể từ giữa năm 2025, quy mô hỗ trợ ở cả hai kênh này đều đạt mức cao kỷ lục, với số dư tiền gửi Kho bạc nhà nước tại các Ngân hàng thương mại quốc doanh đạt mức 406.000 tỷ đồng tại cuối quý IV/2025, trong khi giá trị lưu hành OMO thường xuyên duy trì trên 200 nghìn tỷ đồng.

Tuy vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn liên tục neo cao hơn đáng kể so với lãi suất OMO, cho thấy căng thẳng thanh khoản vẫn còn hiện hữu.

Tổng hợp các yếu tố trên, chúng tôi dự báo NIM toàn ngành tiếp tục suy giảm nhẹ về quanh 3,0% vào cuối năm 2026, song có sự phân hóa giữa các ngân hàng. Nhóm ngân hàng sở hữu tỷ lệ CASA cao, lợi thế về chi phí vốn và năng lực quản trị rủi ro tốt có thể sớm ổn định NIM nhờ khả năng chống chịu tốt hơn trước biến động lãi suất.

Ngược lại, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào huy động thị trường với chi phí vốn cao có thể tiếp tục đối mặt với áp lực NIM kéo dài.

Hà Châu

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ