🔍
Chuyên mục: Chứng khoán

Sau cú sốc địa chính trị tại Trung Đông, hiệu suất VN-Index tụt hạng, đứng thứ 11 trong khu vực

5 giờ trước
Lũy kế từ đầu năm 2026, chỉ số VN-Index giảm 6,2%, tụt từ thứ 6/13 (cuối tháng 2) xuống thứ 11/13, chỉ trên Ấn Độ (–14,5%) và Indonesia (–18,5%). Hàn Quốc vẫn dẫn đầu với +19,9%, tiếp theo là Thái Lan (+15,0%) và Singapore (+5,1%).

Chỉ số VN-Index ghi nhận mức giảm 10,9% so với tháng trước trong tháng 3/2026, xếp thứ 8/13 vẫn tốt hơn chỉ số chứng khoán của Hàn Quốc (–19,1%), Indonesia (–14,4%), chỉ số Morgan Stanley Capital International thị trường mới nổi (–13,3%), Nhật Bản (–13,2%) và Ấn Độ (–11,3%), nhưng kém hơn Philippines (–10,0%).

Đáng chú ý, toàn bộ 13 thị trường trong danh sách theo dõi đều ghi nhận hiệu suất âm trong tháng, phản ánh tác động lan rộng từ cú sốc giá dầu do Iran phong tỏa eo biển Hormuz. Các thị trường Đông Bắc Á chịu ảnh hưởng nặng nhất do độ mở thương mại cao và phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng, trong khi Malaysia (–1,5%) và Singapore (–2,2%) ít chịu tác động hơn nhờ vị thế xuất khẩu dầu khí ròng.

Lũy kế từ đầu năm 2026, chỉ số VN-Index giảm 6,2%, tụt từ thứ 6/13 (cuối tháng 2) xuống thứ 11/13, chỉ trên Ấn Độ (–14,5%) và Indonesia (–18,5%). Hàn Quốc vẫn dẫn đầu với +19,9%, tiếp theo là Thái Lan (+15,0%) và Singapore (+5,1%).

Đáng lưu ý, Mỹ cũng chuyển sang vùng âm (–4,6%), cho thấy rủi ro năng lượng và lạm phát đang tác động diện rộng chứ không chỉ riêng thị trường mới nổi.

Theo VnDirect, biên độ dao động trong tháng lên tới khoảng 16% (1.580–1.880 điểm) – mức biến động cao nhất kể từ giai đoạn dịch Covid-19, phản ánh trạng thái bán tháo hoảng loạn kết hợp gọi ký quỹ trong nửa đầu tháng trước khi dòng tiền bên mua giúp thị trường hồi phục từ vùng hỗ trợ.

Diễn biến tháng 3/2026 cho thấy dòng tiền chuyển sang trạng thái phòng thủ: các nhóm có hệ số beta cao, vốn hóa lớn và phụ thuộc vào dòng vốn ngoại (Công nghệ, Bất động sản, Ngân hàng) chịu áp lực bán mạnh nhất, trong khi dòng tiền chỉ trú ẩn chọn lọc tại một số nhóm hưởng lợi trực tiếp từ biến động địa chính trị (Bảo hiểm, Hóa chất).

Mặt bằng định giá sau nhịp điều chỉnh đã trở nên hấp dẫn hơn đáng kể, tạo cơ sở cho kỳ vọng hồi phục khi tín hiệu hạ nhiệt địa chính trị trở nên rõ ràng hơn và Tổ chức FTSE Russell công bố kết quả nâng hạng vào đầu tháng 4/2026.

Giá trị giao dịch bình quân toàn thị trường tháng 3/2026 đạt 33,9 nghìn tỷ đồng/phiên, tăng so với tháng 2 (31,8 nghìn tỷ), dù chỉ số VN-Index giảm 10,9%. Điều này cho thấy thanh khoản không suy yếu mà được thúc đẩy bởi cả áp lực bán tháo và dòng tiền bắt đáy. Theo từng sàn, thanh khoản trên HoSE tăng 5,4%, HNX tăng mạnh 23,8% và thị trường UPCoM tăng 6,7%, trong đó HNX nổi bật nhờ dòng tiền đầu cơ vào nhóm vốn hóa vừa và nhỏ (dầu khí, hóa chất, chứng khoán).

Diễn biến thanh khoản cao đi kèm giảm điểm phản ánh trạng thái “bán tháo hoảng loạn”. Nửa đầu tháng chịu áp lực gọi ký quỹ và bán tháo ở nhóm vốn hóa lớn, trong khi nửa cuối tháng ghi nhận dòng tiền bắt đáy quay lại, tập trung vào nhóm hưởng lợi từ giá dầu và cổ phiếu phòng thủ. So với cùng kỳ, giá trị giao dịch vẫn tăng, cho thấy mức độ tham gia thị trường duy trì ổn định trong bối cảnh biến động và nâng hạng từ Tổ chức FTSE Russell.

Mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tiếp tục tăng trong tháng 3/2026, với đà tăng rõ nét tại khối ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng tư nhân lớn, cho thấy xu hướng tăng lãi suất đang lan rộng trên toàn hệ thống. Trong tháng 3, nhóm quốc doanh ghi nhận mức tăng mạnh nhất lên 5,9% (+0,7 điểm %), tiếp đến là nhóm ngân hàng tư nhân lớn (+0,5 điểm %), trong khi nhóm ngân hàng tư nhân vừa và nhỏ chỉ tăng nhẹ 0,1 điểm %.

Bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng đã tăng lên 5,9%, so với 5,4% tại cuối tháng 2/2026. Trong đó, VIB, OCB và VPB tiếp tục thuộc nhóm cao nhất thị trường. Trong giai đoạn 06/03/2026–02/04/2026, có 11 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất, trong đó TCB tăng mạnh nhất (+1,7 điểm %), trong khi LPB ghi nhận mức tăng thấp nhất (+0,2 điểm %). Mức độ phân hóa lãi suất vẫn lớn, phản ánh sự khác biệt về nhu cầu huy động, trạng thái thanh khoản và chiến lược tăng trưởng tín dụng giữa các ngân hàng.

Tỷ suất thu nhập trên giá (E/P) trung bình của chỉ số VN-Index trong tháng 3/2026 tăng lên 7,3% do chỉ số VN-Index bình quân tháng giảm 6% so với tháng trước.

Bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tại các ngân hàng thương mại tăng lên 5,9%, từ 5,4% trong tháng trước, cho thấy mặt bằng lãi suất duy trì xu hướng tăng.

Chênh lệch giữa tỷ suất thu nhập trên giá (E/P) của chỉ số VN-Index và lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng tiếp tục duy trì ở mức dương trong tháng 3/2026, dù đã thu hẹp so với giai đoạn 3 quý đầu năm 2025 do mặt bằng lãi suất huy động tăng trở lại.

Thu Minh

TIN LIÊN QUAN



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ