Sáng kiến mở đường phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam (kỳ 2): Từ dữ liệu văn hóa đến thị trường sáng tạo
Trong số 17 sáng kiến phát triển công nghiệp văn hóa năm 2026 được Bộ VH,TT&DL công bố tại lễ ra mắt Mạng lưới Phát triển công nghiệp văn hóa Việt Nam mới đây tại Hà Nội, có 4 sáng kiến tập trung vào những yêu cầu này, gồm: Kho dữ liệu văn hóa số; Bản sao số di sản và không gian văn hóa - Cultureverse; Công cụ văn hóa số toàn dân và Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa.
Khơi thông dữ liệu, mở rộng không gian sáng tạo
Trong số các sáng kiến được công bố, Kho dữ liệu văn hóa số được xác định là nền móng dữ liệu cho hệ sinh thái công nghiệp văn hóa Việt Nam, hướng tới tập hợp, số hóa, kết nối và khai thác nguồn tài nguyên văn hóa trên một hạ tầng dùng chung.
Đây là hướng phát triển có ý nghĩa quan trọng khi Việt Nam sở hữu nguồn di sản, tri thức và những giá trị văn hóa phong phú, nhưng nhiều tư liệu còn phân tán tại các cơ quan, địa phương và thiết chế văn hóa. Việc tập hợp, chuẩn hóa và kết nối những nguồn dữ liệu này không chỉ phục vụ bảo tồn, nghiên cứu mà còn có thể cung cấp chất liệu cho các ngành công nghiệp văn hóa, mở rộng khả năng sáng tạo những sản phẩm mới.
Theo Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL Nguyễn Huy Dũng, Kho dữ liệu văn hóa số được định hướng phục vụ cả 10 ngành công nghiệp văn hóa. Trong đó, điện ảnh cần dữ liệu để phát triển nội dung, còn các ứng dụng trí tuệ nhân tạo cũng cần nguồn dữ liệu phù hợp để học hỏi và hỗ trợ hoạt động sáng tạo.
Chẳng hạn, khi những tư liệu về trang phục, kiến trúc, vũ khí và đời sống của người Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử được số hóa đầy đủ, đây sẽ là nguồn chất liệu quan trọng giúp các nhà làm phim tái hiện bối cảnh, xây dựng nhân vật và phát triển nội dung. Cùng nguồn dữ liệu này, các chủ thể sáng tạo có thể tiếp tục khai thác để phát triển trò chơi điện tử, thiết kế và những sản phẩm trải nghiệm văn hóa.

Bia đá tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là hiện vật lưu giữ lịch sử mà đang trở thành “phương tiện kể chuyện” nhờ ứng dụng ánh sáng và công nghệ số. Ảnh: Phạm Tuấn Anh
Từ đó, giá trị của số hóa không chỉ nằm ở việc chuyển tư liệu sang hình thức lưu trữ mới, mà còn ở khả năng biến những nguồn tài nguyên văn hóa thành chất liệu phục vụ sản xuất và sáng tạo trên nhiều lĩnh vực.
Tuy nhiên, việc hình thành Kho dữ liệu văn hóa số đòi hỏi sự tham gia của nhiều chủ thể, từ các cơ quan quản lý, bảo tàng, trường học đến doanh nghiệp công nghệ và những đơn vị có năng lực số hóa di sản.
Liên quan đến việc triển khai sáng kiến Kho dữ liệu văn hóa số, đại diện Tập đoàn Viettel cho biết việc xây dựng kho dữ liệu văn hóa là nhiệm vụ có quy mô lớn, đòi hỏi hạ tầng, nền tảng công nghệ cùng những giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống. Đây là những lĩnh vực doanh nghiệp có thế mạnh và Viettel cam kết đồng hành cùng Bộ VH,TT&DL trong quá trình triển khai.
Nhưng hạ tầng công nghệ mới chỉ là một phần của bài toán. Khối lượng công việc lớn hơn nằm ở việc số hóa, chuẩn hóa và tổ chức khai thác những nguồn tài nguyên văn hóa đang được lưu giữ tại nhiều cơ quan, đơn vị.
Theo định hướng được đặt ra, các bộ, ngành, địa phương, bảo tàng và trường học có thể triển khai những dự án số hóa phù hợp với nguồn tư liệu đang quản lý, cùng đóng góp vào kho dữ liệu chung. Quá trình này cần có sự phối hợp giữa những đơn vị nắm giữ tài nguyên văn hóa với các doanh nghiệp có năng lực công nghệ và chuyên môn, bảo đảm chất lượng dữ liệu và khả năng khai thác lâu dài.
Gắn với nền tảng dữ liệu là 2 sáng kiến Bản sao số di sản và Không gian văn hóa - Cultureverse cùng Công cụ văn hóa số toàn dân, hướng tới mở rộng phương thức tiếp cận, trải nghiệm và sáng tạo văn hóa trên môi trường số.
Nếu Kho dữ liệu văn hóa số cung cấp nguồn chất liệu, thì Cultureverse được định hướng phát triển những bản sao số di sản và không gian trải nghiệm, tạo điều kiện để các giá trị văn hóa được tái hiện, khai thác bằng những hình thức tương tác mới. Trong khi đó, Công cụ văn hóa số toàn dân hướng tới hỗ trợ người dân tham gia sáng tạo nội dung trong các lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, mỹ thuật, thiết kế, quảng cáo, trò chơi điện tử và du lịch văn hóa.
Thực tế, chi phí sử dụng nhiều công cụ sáng tạo hiện nay còn khá cao, hạn chế khả năng tiếp cận của đông đảo người dân và có thể dẫn đến tình trạng sử dụng phần mềm không có bản quyền. Từ thực tế đó, Bộ VH,TT&DL định hướng phối hợp với các doanh nghiệp phát triển những công cụ sáng tạo văn hóa số với các chức năng cơ bản được cung cấp miễn phí, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận công nghệ và khuyến khích người dân trực tiếp tham gia sáng tạo.
Từ những thiết bị phổ biến như điện thoại thông minh, người dân ngày nay có thể thực hiện nhiều công đoạn sáng tạo mà trước đây thường phải sử dụng các thiết bị chuyên nghiệp. Việc mở rộng khả năng tiếp cận công cụ không chỉ giúp giảm chi phí, mà còn có thể tạo ra một không gian sáng tạo rộng lớn hơn, trong đó người dân vừa tiếp nhận, vừa trực tiếp tham gia phát triển nội dung văn hóa.
Đại diện VTC cũng chia sẻ kết quả một khảo sát thử nghiệm với nhóm sinh viên về mức độ sẵn sàng chi trả cho sản phẩm có yếu tố văn hoá: Hơn 90% số người được hỏi đồng ý với giả định sản phẩm có giá bán cao hơn khoảng 15% khi được bổ sung giá trị văn hóa.
Ông Nguyễn Mạnh Tùng (Tổng Giám đốc Công ty CP YooTek Holdings, hoạt động trong lĩnh vực công nghệ số, tự động hóa và Internet vạn vật) cho rằng, để khai thác hiệu quả nguồn dữ liệu văn hóa số, cần đồng thời phát triển những không gian văn hóa số hấp dẫn, có khả năng thu hút người sử dụng.
Theo ông, một không gian văn hóa số muốn phát huy giá trị không thể chỉ dừng ở việc giới thiệu tư liệu, mà cần có những công cụ để người dùng tương tác, trải nghiệm và trực tiếp sáng tạo nội dung. Từ đó, nguồn dữ liệu văn hóa mới có điều kiện được khai thác, phát triển thành những sản phẩm mới.
Đại diện doanh nghiệp này cũng cho biết đơn vị đã ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực giáo dục. Trên cơ sở kinh nghiệm và năng lực công nghệ đã tích lũy, doanh nghiệp bày tỏ cam kết tham gia phát triển không gian văn hóa số cùng các công cụ sáng tạo nội dung văn hóa số theo định hướng của bộ.
Từ những sáng kiến này, một hướng phát triển mang tính liên kết được hình thành, trong đó dữ liệu văn hóa trở thành nguồn tài nguyên dùng chung, không gian số mở rộng khả năng trải nghiệm, còn các công cụ công nghệ tạo điều kiện để cộng đồng trực tiếp tham gia sáng tạo. Qua đó, những giá trị văn hóa không chỉ được bảo tồn, lan tỏa mà còn trở thành chất liệu để phát triển các sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu của công chúng và mở rộng tiềm năng của công nghiệp văn hóa.
Kết nối tài sản trí tuệ với thị trường
Cùng với việc mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu và công cụ sáng tạo, vấn đề bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, xác định quyền khai thác và thương mại hóa sản phẩm cũng trở thành yêu cầu quan trọng, nhằm chuyển hóa những thành quả sáng tạo thành giá trị kinh tế trên thị trường.
Xuất phát từ yêu cầu này, sáng kiến Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa được đặt ra nhằm hình thành nền tảng kết nối giữa người sáng tạo, chủ sở hữu tài sản trí tuệ, nhà đầu tư và những doanh nghiệp có nhu cầu khai thác, thương mại hóa sản phẩm.

Khu vườn Quốc hoa đậm chất Việt Nam của tựa game Audition do VTC phát triển tại Triển lãm “80 năm Hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”
Đề xuất này bắt nguồn từ những khó khăn trong thực tiễn phát triển nội dung số của Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện VTC, đặc biệt là lĩnh vực trò chơi điện tử.
Ông Nguyễn Ngọc Bảo (Tổng Giám đốc Tổng công ty Truyền thông đa phương tiện VTC) cho rằng, việc phát triển những sản phẩm phục vụ giải trí có thể tương đối thuận lợi, nhưng chuyển hóa các giá trị văn hóa thành nội dung cốt lõi của sản phẩm lại là một bài toán khó.
Theo đại diện doanh nghiệp, khi phát triển trò chơi điện tử mang bản sắc Việt Nam, nếu những hình ảnh, yếu tố văn hóa chỉ được gắn vào để trang trí, quảng bá và khi loại bỏ chúng, trò chơi vẫn vận hành bình thường, thì văn hóa chưa thực sự trở thành nội dung của sản phẩm.
Từ đó, doanh nghiệp đặt ra yêu cầu phát triển những trò chơi mà lịch sử, văn hóa Việt Nam trở thành chất liệu xây dựng cốt truyện, nhân vật, bối cảnh và trải nghiệm. Đây cũng là hướng VTC đang nghiên cứu để kết hợp quảng bá những điểm đến văn hóa, du lịch với việc tái hiện các câu chuyện lịch sử trên môi trường số.
Tuy nhiên, quá trình phát triển sản phẩm đã bộc lộ những khó khăn liên quan đến khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên văn hóa. Doanh nghiệp không dễ xác định những nguồn tư liệu cần khai thác hiện đang được lưu giữ ở đâu, do đơn vị nào quản lý và có thể sử dụng theo những điều kiện nào.
Đặc biệt, khi sản phẩm được phát hành tại thị trường trong nước và quốc tế, việc chứng minh quyền khai thác, sử dụng tài sản trí tuệ trở thành một yêu cầu quan trọng. Nếu vấn đề này không được giải quyết rõ ràng, hoạt động sáng tạo và thương mại hóa sản phẩm có thể gặp nhiều trở ngại.
Từ thực tiễn ấy, đại diện VTC đề xuất Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa như một phương thức kết nối 2 không gian có quan hệ chặt chẽ.
Không gian thứ nhất là nguồn di sản, tài nguyên văn hóa đang được lưu giữ, quản lý tại các cơ quan và thiết chế văn hóa. Không gian thứ hai là cộng đồng sáng tạo, nơi những nghệ sĩ, doanh nghiệp và nhà sản xuất khai thác chất liệu văn hóa để hình thành các tác phẩm mới, trong đó có những sản phẩm phái sinh mang giá trị kinh tế.
Khi 2 không gian này được kết nối, người sáng tạo có thêm điều kiện tiếp cận nguồn chất liệu, xác định quyền khai thác và tìm kiếm đối tác phát triển sản phẩm. Ngược lại, những nguồn tài nguyên văn hóa cũng có cơ hội tiếp tục phát huy giá trị thông qua các hoạt động sáng tạo, sản xuất và kinh doanh.
Đại diện VTC cũng chia sẻ kết quả một khảo sát thử nghiệm với nhóm sinh viên về mức độ sẵn sàng chi trả cho sản phẩm có yếu tố văn hóa. Theo số liệu doanh nghiệp cung cấp, hơn 90% số người được hỏi đồng ý với giả định sản phẩm có giá bán cao hơn khoảng 15% khi được bổ sung giá trị văn hóa. Kết quả này được VTC xem là tín hiệu cho thấy tiềm năng gia tăng giá trị sản phẩm khi bản sắc văn hóa được khai thác phù hợp.
Từ đây, Sàn giao dịch công nghiệp văn hóa không chỉ hướng tới tạo ra một không gian mua bán sản phẩm, mà còn góp phần hình thành cơ chế kết nối, bảo hộ bản quyền, định giá và giao dịch tài sản trí tuệ minh bạch hơn.
Điều này có ý nghĩa khi từ một nguồn tư liệu, hình tượng lịch sử hoặc chất liệu di sản, các chủ thể có thể tiếp tục phát triển những sản phẩm điện ảnh, trò chơi điện tử, thiết kế, thủ công mỹ nghệ và nhiều loại hình sáng tạo khác. Mỗi sản phẩm lại có khả năng tạo ra những giá trị mới, mở rộng thị trường và cơ hội hợp tác.
Như vậy, giá trị của những sáng kiến không chỉ nằm ở việc hình thành các nền tảng công nghệ, mà quan trọng hơn là khả năng đưa thành quả sáng tạo vào đời sống kinh tế, tạo ra sản phẩm, doanh thu và cơ hội phát triển cho các chủ thể tham gia. Đây cũng là cơ sở để từng bước hình thành thị trường công nghiệp văn hóa chuyên nghiệp, nơi tài sản trí tuệ được bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị, góp phần nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm văn hóa Việt Nam.
(Còn tiếp)
Công Bắc
4 giờ trước
18 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
5 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
9 ngày trước
10 ngày trước
11 ngày trước
11 ngày trước
14 ngày trước
18 ngày trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
1 tháng trước
3 giờ trước
5 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước