🔍
Chuyên mục: Tài chính

Sandbox tại VIFC-HCMC: Lạt mềm buộc chặt?

1 ngày trước
Từ kinh nghiệm của quốc gia đi trước như Singapore, trọng tâm của sandbox không phải là nới lỏng quy tắc pháp lý; ngược lại, nó là kênh 'thử nghiệm' và 'thu thập dữ liệu' hướng tới hoàn thiện khung pháp lý quốc gia.

Nghị quyết 222/2025/QH15 của Quốc hội về việc thành lập các trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (IFC) đã xác lập cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho lĩnh vực công nghệ tài chính. Sandbox là cơ hội để thị trường và quản lý nhà nước gặp gỡ, học hỏi từ kinh nghiệm của nhau; song cũng là nơi cọ xát giữa những cách tiếp cận chính sách khác nhau, mỗi cách tiếp cận có quan điểm, lập luận riêng của nó. Trong đà bứt tốc của IFC tại TPHCM (VIFC-HCMC), đâu là cách tiếp cận phù hợp nhất?

Sandbox và cơ hội từ IFC

Đặt trong phạm vi của các IFC, sandbox là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, cho phép tạo lập môi trường pháp lý ban đầu để có thể thử nghiệm các ứng dụng công nghệ mới mà pháp luật hiện hành chưa quy định điều chỉnh. Mục đích của sandbox là tạo ra không gia thông thoáng, thời gian linh hoạt để các nhà đầu tư được phép thử nghiệm sản phẩm, đồng thời tạo ra môi trường “chân không” để cơ quản lý của nhà nước thử nghiệm chính sách trong tầm kiểm soát.

Tại VIFC-HCMC, Nghị quyết 222/2025/QH15 của Quốc hội cho phép các định chế tài chính thử nghiệm các dịch vụ mà thị trường bên ngoài chưa có quy định hoặc quy định chưa hoàn thiện. Lĩnh vực được thử nghiệm bao gồm cả các mô hình mới về tài sản số, tiền số, thanh toán kỹ thuật số và việc thành lập các sàn giao dịch tài sản số trong phạm vi được quản lý đặc biệt. Điều này cho thấy Việt Nam từ chối thả nổi công nghệ tài chính. Vấn đề hiện nay, sandbox nên được triển khai theo cách tiếp cận nào?

Hai cách tiếp cận được nhắc đến hiện nay

Đối với mô hình sandbox nằm trong trung tâm tài chính chuyên biệt (thể hiện qua IFC), có hai cách tiếp cận chính thường được nhắc đến sau đây(1):

Rượu mới, bình cũ (duck-type): Hiểu đơn giản, cách tiếp cận này hướng đến việc tái sử dụng các giải pháp pháp lý có sẵn để giải quyết rủi ro mới. Cách tiếp cận này hạn chế tối đa việc sáng tạo ra các quy tắc mang tính “chạy theo”, mà thay vào đó, hướng đến việc diễn giải lại các quy tắc pháp lý có sẵn để giải quyết rủi ro trong ngữ cảnh mới.

Rõ ràng, ưu điểm của cách tiếp cận này là bảo toàn sự thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời duy trì tính ổn định của các thiết chế kiểm soát rủi ro của Nhà nước.

Tuy nhiên, nếu áp dụng cách tiếp cận này ở Việt Nam, IFC sẽ bị giới hạn quyền tự quyết. Chủ thể có quyền kiểm soát, phê duyệt, giám sát và kiểm toán sẽ là cơ quan quản lý nhà nước. N

ói cách khác, bất kỳ quyết định nào, từ phê duyệt sản phẩm thử nghiệm cho đến tổng kết và ra quyết định “exit”, đều phải xin ý kiến và chờ chỉ đạo từ cơ quan nhà nước cấp trung ương. Hệ quả là quyết định có thể có độ trễ. Cơ chế vận hành như thế chưa được gọi là đột phá. Nếu xảy ra sự cố công nghệ, độ trễ khiến cơ quan quản lý rơi vào thế thụ động, trong khi IFC có khả năng nhưng không có quyền điều tiết ngay.

Hơn nữa, tiếp cận duck-type kéo theo nhu cầu gia tăng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cho cơ quan quản lý, làm gia tăng nhu cầu về nhân sự, ngân sách, cũng như nhu cầu đầu tư lâu dài về chuyên môn cho cơ quan chuyên trách. Trong bối cảnh VIFC-HCMC đã thành lập và đi vào hoạt động, cách tiếp cận này gây lãng phí thể chế, có lẽ không phù hợp với tinh thần tinh gọn, hiệu quả mà Đảng và Nhà nước chủ trương.

Khung mở có chốt an toàn (Code): Trái ngược với duck-type, cách tiếp cận “code” trao quyền mạnh mẽ cho IFC được trực tiếp vận hành sandbox công nghệ tài chính. Triết lý của “code” là kiểm soát sâu dựa trên quyết định tức thời, có tính toán đến độ lệch cho phép giữa quyết định quản lý riêng biệt và khung pháp lý chung.

Thay vì áp dụng khung pháp lý có sẵn, cách tiếp cận này cho phép cơ quan trực tiếp quản lý, trong trường hợp này là IFC, có thể ra quyết định hành chính theo thời gian thực. Các phản hồi trực tiếp ghi nhận trong quá trình thử nghiệm sẽ là bằng chứng thực tiễn để IFC góp phần soạn thảo, hoàn thiện các khung pháp lý về blockchain, tài sản số trong tương lai. Phản hồi điều chỉnh sát theo nhịp thị trường, đây chính là ưu điểm của cách tiếp cận “code” so với “duck-type”.

Theo đánh giá ban đầu của nhóm nghiên cứu Đại học Kinh tế TPHCM (UEH), VIFC-HCMC được trao quyền đúng theo tinh thần “code”. Rộng tay thử nghiệm, cơ chế sandbox tạo cơ hội cho các nhà đầu tư cam kết chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình.

Trao quyền “code” cho VIFC-HCMC là cần thiết để có cơ sở điều tiết kịp thời đối với sản phẩm thử nghiệm. Được trao quyền, VIFC-HCMC có thể chủ động kiểm soát rủi ro và trực tiếp ra quyết định điều chỉnh đối với công nghệ thử nghiệm trong phạm vi quản lý của mình.

Nhưng điều chỉnh theo hướng mở, dựa trên quy luật thị trường không nên được hiểu là phó mặc cho một “bàn tay vô hình” để tự cân bằng giữa các thành phần kinh tế. Nếu thiếu một sự can thiệp vừa phải nhằm cân bằng, kiểm soát giữa cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan chuyên biệt, tiếp cận “code” dễ đặt cơ quan quản lý nhà nước vào thế lúng túng, mất kiểm soát.

Điều này đặt sự an nguy của hệ thống tài chính và an ninh chiến lược vào quyền quyết định của một nhóm nhỏ, làm tăng rủi ro hệ thống. Câu hỏi lúc này cho nhà thiết kế thể chế là làm thế nào để đạt được “cân bằng hợp lý” giữa kiểm soát và trao quyền.

Các gợi mở quan trọng cho VIFC-HCMC

Mô hình sandbox lý tưởng cho Việt Nam cần đặt yếu tố chủ động giám sát, an toàn hệ thống lên hàng đầu. Từ kinh nghiệm của quốc gia đi trước như Singapore, trọng tâm của sandbox không phải là nới lỏng quy tắc pháp lý; ngược lại, nó là kênh “thử nghiệm” và “thu thập dữ liệu” hướng tới hoàn thiện khung pháp lý quốc gia.

Nước xa không thể cứu lửa gần. Để giữ được thế chủ động, cơ quan quản lý ngay ở cấp địa phương, tức TPHCM, cần được phân quyền mạnh hơn để có thể phối hợp sâu sát với VIFC-HCMC. Song để tránh can thiệp quá đà vào vận hành của IFC, quyền kiểm soát sandbox giữa TPHCM và VIFC-HCMC cần được phân bố dựa trên cơ sở khoa học, làm sao tạo một hệ thống đồng bộ, nhất quán, phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn rõ ràng, tường minh.

Bên cạnh đó, cơ chế tham gia sandbox phải đủ hấp dẫn để thu hút dòng vốn toàn cầu, nhưng cũng phải đủ linh hoạt để doanh nghiệp Việt Nam có không gian tham gia, phát triển và từng bước trở thành một phần của hệ sinh thái chung. Vì vậy, đối với việc lựa chọn nhà đầu tư chiến lược, VIFC-HCMC nên có quyền ra quyết định, nhưng quyết định đó cần đặt trong định hướng chung mà TPHCM đưa ra.

Tiêu chí lựa chọn nên được xây dựng dựa trên sự đánh giá đầy đủ khả năng thực hiện các cam kết của bên tham gia, cũng như hiểu biết tương đối toàn diện về mức độ rủi ro của dự án. TPHCM có lẽ không cần ban hành các tiêu chí “cứng” quá cụ thể, nhưng có thể xác định một số định hướng tổng quát, trên cơ sở hài hòa với mục tiêu chính sách quốc gia và mục tiêu phát triển chung của thành phố.

Song song đó, cơ quan xúc tiến đầu tư là “người gác cổng” của TPHCM lẫn VIFC-HCMC. Việc chuyển đổi từ cơ quan quản lý hành chính truyền thống sang mô hình xã hội hóa dịch vụ công là điều cần thiết. Bước đầu có thể hướng đến xây dựng chính sách công tác nhân sự mới hòa hợp chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các bên để đạt lợi ích tối đa, đúng với các yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra.

Quan trọng nhất, cơ quan quản lý cần duy trì cơ chế liên lạc chặt chẽ, nắm bắt chính xác tình hình triển khai sandbox để chủ động phòng ngừa rủi ro. Thay vì tập trung nguồn lực cho tiền kiểm, công tác hậu kiểm nên được chú trọng hơn. Cho phép tư duy thị trường thấm vào cân nhắc điều tiết, nhưng cơ quan quản lý cũng cần duy trì khả năng điều tiết để, chỉ khi cần, có thể can thiệp trong chừng mực nhằm bảo vệ trật tự công và phúc lợi chung.

(*) Hai tác giả là giảng viên, Đại học Kinh tế TPHCM (UEH).
(1) Theo nghiên cứu của GS. Marlene Amstad, Chinese University of Hong Kong.

Huỳnh Thiên Tứ - Tô Công Nguyên Bảo (*)

TIN LIÊN QUAN














Home Icon VỀ TRANG CHỦ