Rời OPEC, UAE phát tín hiệu gì với thị trường năng lượng toàn cầu?

Biểu tượng của Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) tại trụ sở ở Vienna, Áo. Ảnh: THX/TTXVN
Theo hãng tin CNA, động thái này được cho là có thể làm suy yếu vai trò điều tiết của OPEC, đồng thời tạo ra những tác động nhiều chiều đối với thị trường dầu mỏ toàn cầu.
OPEC và OPEC+: Cấu trúc quyền lực của thị trường dầu mỏ
OPEC được thành lập năm 1960 nhằm điều phối sản lượng và kiểm soát giá dầu. Hiện tổ chức có 12 thành viên - gồm Algeria, Congo, Guinea Xích đạo, Gabon, Iran, Iraq, Kuwait, Libya, Nigeria, Saudi Arabia, UAE và Venezuela. Các quốc gia này cùng nắm giữ hơn 80% trữ lượng dầu của thế giới.
Mục tiêu của OPEC là đảm bảo giá dầu ổn định, nguồn cung đáng tin cậy và lợi nhuận hợp lý cho các nhà đầu tư. Sự ra đời của tổ chức này đánh dấu bước chuyển từ thế thống trị của phương Tây sang việc các quốc gia sở hữu tài nguyên dầu mỏ kiểm soát tốt hơn nguồn lực và lợi ích của mình.
Năm 2016, OPEC mở rộng ảnh hưởng thông qua cơ chế OPEC+, kết nạp thêm 10 nhà sản xuất, trong đó có Nga. Saudi Arabia và Nga là hai nước sản xuất lớn nhất trong liên minh, lần lượt đạt khoảng 9 triệu và 9,3 triệu thùng/ngày (theo Reuters năm 2024).
UAE hiện là nhà sản xuất lớn thứ ba trong OPEC và thứ tư trong OPEC+.
Tuy nhiên, bất đồng về hạn ngạch sản xuất đã âm ỉ trong nội bộ, đặc biệt giữa UAE và Saudi Arabia – quốc gia được coi là “đầu tàu” của tổ chức. Các nhà phân tích cho rằng UAE từ lâu không hài lòng với mức trần sản lượng và muốn linh hoạt hơn để mở rộng khai thác.
Gia nhập OPEC năm 1967 thông qua tiểu vương quốc Abu Dhabi, UAE sản xuất khoảng 3,4 triệu thùng/ngày trước khi xung đột Iran bùng phát hôm 28/2. Công suất tối đa của nước này ước tính có thể đạt khoảng 5 triệu thùng/ngày.
Tác động trước mắt: Thị trường “án binh bất động”
Dù động thái của UAE được đánh giá là rất quan trọng, tác động trước mắt tới thị trường dầu mỏ được cho là hạn chế do các ràng buộc liên quan đến eo biển Hormuz.
Ông Claudio Galimberti, kinh tế trưởng của Rystad Energy, nhận định đây là “một trong những diễn biến đáng chú ý nhất” những năm gần đây, nhưng giá dầu hầu như không phản ứng.
“Thị trường gần như không biến động. Nguyên nhân là toàn bộ thị trường dầu mỏ vẫn đang bị ‘giữ làm con tin’ bởi tình hình tại Hormuz. Khi nguồn cung còn bị siết chặt, thị trường sẽ chưa phản ứng”, ông nói.
Theo ông, nếu tình hình tại eo biển Hormuz bình thường hóa, khả năng OPEC điều tiết thị trường thông qua tăng – giảm sản lượng sẽ suy giảm đáng kể.
Bà Rachel Ziemba, chuyên gia tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới, cho rằng động thái của UAE mang tính tín hiệu cho giai đoạn hậu xung đột hơn là tác động ngắn hạn. Tuy nhiên, về lâu dài, OPEC có thể gặp khó khăn hơn trong việc “điều tiết thị trường”.
Bà cũng lưu ý rằng một số thành viên đã sản xuất vượt hạn ngạch, làm suy yếu cơ chế phối hợp. Nguy cơ lớn hơn là các nước khác như Nigeria hay Iraq có thể noi theo UAE.
Dù vậy, một số ý kiến cho rằng thị trường dầu mỏ là hệ thống phức tạp có khả năng tự cân bằng, nên việc một quốc gia rời đi khó gây xáo trộn lớn.
Hệ lụy với OPEC: Suy giảm vai trò điều tiết

Nhà máy lọc dầu tại tỉnh Chiba, Nhật Bản. Ảnh tư liệu: Kyodo/TTXVN
Việc UAE rút lui được dự báo sẽ làm suy yếu ảnh hưởng của OPEC, khi tổ chức này mất đi một trong số ít thành viên có khả năng nhanh chóng tăng sản lượng.
Giới phân tích nhận định vai trò của OPEC đã suy giảm trong những năm gần đây, đặc biệt khi Mỹ tăng mạnh sản lượng. Trước xung đột, Saudi Arabia sản xuất hơn 10 triệu thùng/ngày, trong khi Mỹ vượt 13 triệu thùng/ngày.
Theo chuyên gia Jaime Brito, Giám đốc điều hành mảng lọc dầu và thị trường dầu mỏ tại OPIS thuộc Dow Jones, OPEC đã không còn khả năng kiểm soát giá hiệu quả như trước, do nguồn cung từ nhiều quốc gia gia tăng.
Giáo sư Gregory Treverton tại Đại học Nam California cho rằng OPEC “đã suy yếu trong thời gian dài” và khó buộc các quốc gia thành viên tuân thủ hạn chế sản lượng.
Tuy nhiên, một số chuyên gia tin rằng OPEC sẽ không sụp đổ, khi tổ chức này từng vượt qua nhiều khủng hoảng nghiêm trọng, như chiến tranh Iran - Iraq thập niên 1980.
Động cơ phía sau: Sản lượng và tính toán địa chính trị
Bên cạnh yếu tố sản lượng, chính trị khu vực cũng có thể đóng vai trò trong quyết định của UAE.
Quan hệ giữa UAE và Saudi Arabia thời gian qua có dấu hiệu lạnh nhạt hơn, liên quan đến cạnh tranh kinh tế và khác biệt chiến lược. Một số chuyên gia cho rằng việc rút khỏi OPEC phản ánh nhu cầu linh hoạt của UAE trong quan hệ với các khách hàng lớn như Trung Quốc, cũng như cạnh tranh với Saudi Arabia.
Bà Karen Young, học giả nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu của Đại học Columbia, nói: “Động thái rút khỏi OPEC phù hợp với nhu cầu linh hoạt của UAE với các khách hàng tiêu thụ năng lượng chủ chốt - bao gồm cả mối quan hệ trong tương lai với Trung Quốc và mối quan hệ cạnh tranh hơn với Saudi Arabia”.
Dù vậy, Bộ trưởng Năng lượng UAE Suhail al-Mazrouei khẳng định quyết định này không xuất phát từ bất đồng với Riyadh.
Tiến sĩ James M Dorsey, Nghiên cứu viên cao cấp kiêm nhiệm tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S Rajaratnam thuộc Đại học Công nghệ Nanyang, nhận định động thái này có thể ảnh hưởng đến sự đoàn kết vùng Vịnh, thậm chí làm gia tăng cạnh tranh giữa hai cường quốc khu vực. Tiến sĩ Dorsey nói thêm rằng ông dự đoán UAE sẽ hợp tác với Israel và thắt chặt quan hệ đối tác với Mỹ.
Mỹ hưởng lợi, cục diện năng lượng có thể dịch chuyển

Tổng thống Mỹ Donald Trump (trái) và Tổng thống UAE Sheikh Mohamed bin Zayed Al Nahyan trong cuộc gặp ở Abu Dhabi ngày 15/5/2025. Ảnh: AA/TTXVN
Việc UAE rời OPEC có thể làm thay đổi cục diện địa chính trị năng lượng. Một số chuyên gia cho rằng động thái này có thể kéo Abu Dhabi xích lại gần Washington hơn sau khi xung đột lắng dịu.
Mỹ từ lâu chỉ trích OPEC và thường gây sức ép buộc tổ chức này tăng sản lượng để hạ giá dầu. Do đó, bất kỳ dấu hiệu suy yếu nào của OPEC đều có thể được Washington hoan nghênh.
Châu Á chịu tác động ra sao?

Một cơ sở khai thác dầu của Iran. Ảnh: IRNA/TTXVN
Đối với châu Á, lợi ích từ quyết định của UAE phụ thuộc lớn vào tình hình eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển chiếm khoảng 1/5 nguồn cung dầu toàn cầu.
Chừng nào gián đoạn còn kéo dài, tác động tích cực từ việc UAE tăng sản lượng sẽ chưa thể phát huy. Ngay cả khi tuyến đường này hoạt động bình thường trở lại, quá trình phục hồi cũng có thể mất nhiều tháng.
Trong ngắn hạn, các nền kinh tế châu Á, vốn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu năng lượng, khó được hưởng lợi về giá cả.
Ông Simon Henderson, Giám đốc Chính sách Vịnh và Năng lượng tại Viện Washington, cho biết các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ phụ thuộc vào nhập khẩu dầu mỏ và do đó là họ phải chấp nhận mọi kịch bản.
“Họ sẽ phải sống chung với bất cứ điều gì xảy ra”, ông nói.
Các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn đối mặt với chi phí vận chuyển cao, phí bảo hiểm tăng và rủi ro nguồn cung.
Về dài hạn, nếu UAE đẩy mạnh sản xuất, chi phí nhập khẩu có thể giảm. Tuy nhiên, do dầu mỏ được giao dịch chủ yếu qua các hợp đồng song phương, tác động từ việc UAE rời OPEC có thể không trực tiếp như kỳ vọng.
Hải Vân/Báo Tin tức và Dân tộc
1 giờ trước
3 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
6 giờ trước
7 giờ trước
15 giờ trước
15 giờ trước
18 giờ trước
20 giờ trước
23 giờ trước
1 ngày trước
1 phút trước
54 phút trước
20 phút trước
45 phút trước
53 phút trước
1 giờ trước