🔍
Chuyên mục: Thời sự

Quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3

5 giờ trước
Sáng 29/7, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước; lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các địa phương, cơ quan, đơn vị. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, kết nối từ điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội đến các điểm cầu ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương, các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tại điểm cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) có các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ NHNN, lãnh đạo các ban tham mưu, giúp việc của Đảng ủy NHNN cùng toàn thể đảng viên thuộc các đảng bộ, chi bộ trực thuộc. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới các điểm cầu tại các đơn vị thuộc Đảng bộ NHNN.

Quán triệt nhiều nội dung quan trọng

Thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20-24/7 tại Thủ đô Hà Nội. Sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước.

Tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị đã quán triệt 2 chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam" và "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Về Chuyên đề "Nghị quyết về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam", đồng chí Nguyễn Thanh Nghị cho biết, Nghị quyết đề ra 5 quan điểm chỉ đạo, trong đó khẳng định đổi mới mô hình phát triển là nhiệm vụ chiến lược, có ý nghĩa lịch sử để xây dựng thành công mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam; thể hiện các nguyên tắc nền tảng trong đổi mới mô hình phát triển, đó là thực hiện nhất quán "bốn kiên định"; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối, trực tiếp của Đảng; phát huy vai trò kiến tạo phát triển của Nhà nước; khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội.

Về Chuyên đề "Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh", đồng chí Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh: Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng trong bối cảnh đất nước và thế giới đang thay đổi nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược trên biển ngày càng gay gắt, đặt ra yêu cầu cần xây dựng Nghị quyết mới của Trung ương nhằm tạo bước chuyển mạnh mẽ về tư duy, thể chế và mô hình phát triển biển với tầm nhìn chiến lược, toàn diện với những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn trong thời gian tới. Nghị quyết xác định 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn.

Toàn cảnh Hội nghị tại điểm cầu trung tâm - Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội , Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Tại Hội nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc đã trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Phó Thủ tướng Thường trực cho biết, sau 4 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Trung ương đánh giá tư duy quản lý đất đai đã cơ bản chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, đồng thời khơi thông nguồn lực cho phát triển.

Tuy nhiên, đất đai vẫn là một trong những lĩnh vực còn nhiều vướng mắc, dễ phát sinh khiếu nại, tố cáo, thất thoát, lãng phí, tham nhũng, tiêu cực và lợi ích nhóm. Một số cơ chế, chính sách còn bất cập khiến nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ hiệu quả, nhất là trong các lĩnh vực quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, bồi thường, tái định cư, tài chính đất đai và giá đất.

Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế nêu trên, sau khi phân tích kỹ lưỡng, thảo luận thẳng thắn, dân chủ, Trung ương đã thống nhất ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW thay thế Nghị quyết số 18-NQ/TW. Nghị quyết tiếp tục kế thừa, khẳng định những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp còn nguyên giá trị của Nghị quyết số 18-NQ/TW, đồng thời điều chỉnh, bổ sung một số quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai theo hướng đồng bộ, minh bạch, khả thi; vừa khơi thông nguồn lực, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và phát triển nhanh, bền vững, vừa bảo đảm quản lý chặt chẽ, thực hiện công bằng xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, giữ vững quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.

Điểm cầu tại NHNN - Ảnh: Hoàng Giáp

Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tổ chức Trung ương đã quán triệt 2 chuyên đề: "Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp" và chuyên đề "Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng".

Về Chuyên đề "Kết luận về tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, sau 1 năm triển khai mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Ban Chấp hành Trung ương khẳng định: Chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới; là quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng sâu sắc trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, tổ chức quyền lực nhà nước và quản trị quốc gia hiện đại.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, quá trình vận hành mô hình mới vẫn còn một số hạn chế, bất cập về thể chế, phân cấp, phân quyền, phân bổ nguồn lực, về sắp xếp, bố trí, chất lượng đội ngũ cán bộ, chuyển đổi số và năng lực tổ chức thực hiện, nhất là ở cấp xã. Đây là những vấn đề tất yếu phát sinh trong quá trình chuyển đổi mô hình, cần tiếp tục được rà soát, khắc phục, hoàn thiện; hoàn toàn không làm thay đổi tính đúng đắn và hiệu quả của chủ trương đổi mới tổ chức bộ máy.

Toàn cảnh điểm cầu NHNN - Ảnh: Hoàng Giáp

Đề cập đến Chuyên đề "Về sửa đổi, bổ sung Quy định số 20-QĐ/TW, ngày 8/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc cho biết, việc sửa đổi, bổ sung Quy định 20-QĐ/TW lần này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, bảo đảm thống nhất với mô hình tổ chức của hệ thống chính trị sau sắp xếp. Thực tiễn lịch sử 96 năm xây dựng và phát triển đã khẳng định: Mô hình tổ chức của Đảng luôn được điều chỉnh, hoàn thiện phù hợp với yêu cầu lãnh đạo cách mạng trong từng giai đoạn.

Từ mô hình 6 cấp trong thời kỳ đầu thành lập Đảng, từng bước chuyển dần sang mô hình 5 cấp, 4 cấp trong nhiều thập niên và hiện nay - sau Hội nghị Trung ương 3, khóa XIV là mô hình 3 cấp, đã phản ánh quá trình đổi mới tổ chức luôn gắn liền với sự tiếp nối quy luật phát triển khách quan của lịch sử.

"Việc sửa đổi, bổ sung Quy định 20-QĐ/TW là hết sức cần thiết để tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa chủ trương của Trung ương về mô hình tổ chức đảng trong giai đoạn mới; tạo cơ sở chính trị, pháp lý trong việc định danh tên gọi, điều chỉnh, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mối quan hệ công tác và trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy, tổ chức đảng", đồng chí Nguyễn Duy Ngọc nhấn mạnh.

5 vấn đề trọng tâm thời gian tới

Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, Hội nghị Trung ương 3 đã thống nhất cao nhiều nội dung, quyết định nhiều chủ trương lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Đây là bước cụ thể hóa quan trọng Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, gắn nhiệm vụ năm 2026 với mục tiêu cả nhiệm kỳ, đến năm 2030, năm 2045. Các quyết sách cùng hướng tới nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, khả năng quản trị, phát triển, bảo vệ đất nước; làm cho bộ máy của hệ thống chính trị vận hành hiệu quả hơn, nguồn lực được khơi thông, đời sống Nhân dân được nâng cao, đất nước phát triển.

Theo đó, thống nhất nhận thức, triển khai phải rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ hiệu quả, rõ trách nhiệm. Chất lượng thực thi là thước đo năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu quả vận hành của hệ thống; phải chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả. Trên tinh thần đó, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị tập trung quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt 5 vấn đề.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức, nắm vững tư tưởng chỉ đạo, những điểm mới và mối quan hệ hữu cơ giữa các quyết sách, bước chuyển chiến lược của Trung ương; hiểu đúng để hành động thống nhất.

Điều cần nhận thức sâu sắc là các quyết sách của Trung ương là một hệ thống liên thông, gắn kết cùng hướng tới đổi mới đồng bộ phương thức lãnh đạo, quản trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Công tác xây dựng Đảng, tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ phải giúp nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng vận hành; không gian phát triển, nguồn lực quốc gia phải được quản trị thống nhất, sử dụng hiệu quả; mô hình phát triển phải dựa vào năng suất, tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và con người, phải bám sát thực tiễn Việt Nam; quốc phòng, an ninh, đối ngoại, môi trường phải chủ động phòng ngừa, nâng cao sức chống chịu, khả năng thích ứng và bảo vệ vững chắc đất nước. Các nhiệm vụ đó là một thực thể hữu cơ; khâu nào chậm, yếu đều ảnh hưởng đến kết quả chung.

Trong xây dựng Đảng, phải kết hợp giữa "xây" và "chống", giữa kỷ luật nghiêm minh và khuyến khích đổi mới. Thi hành Điều lệ Đảng phải tuyệt đối chấp hành Điều lệ, đúng thẩm quyền; vấn đề mới cần thí điểm phải rõ phạm vi, thời hạn, trách nhiệm và được tổng kết. Quy định về những điều đảng viên không được làm giúp nhận diện, ngăn chặn vi phạm, để cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa; đồng thời bảo vệ tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thứ hai, khẩn trương cụ thể hóa đồng bộ các quyết sách thành chương trình, kế hoạch hành động sát thực tiễn, có trọng tâm, trọng điểm, rõ thứ tự ưu tiên và liên thông giữa các nhiệm vụ

Nghị quyết phải đi cùng chương trình hành động. Chương trình hành động phải mang hơi thở, nhịp sống, đặc thù của từng bộ, ngành, địa phương, cơ sở để có thể thực thi hiệu quả. Mỗi chương trình phải rõ mục tiêu, nhiệm vụ, cơ quan chủ trì, phối hợp, thẩm quyền, nguồn lực, tiến độ, sản phẩm, dữ liệu đánh giá và người chịu trách nhiệm. Không hành chính hóa việc thực hiện; không lấy số lượng kế hoạch, hội nghị thay cho kết quả.

Ngay sau Hội nghị hôm nay, các cấp ủy, cơ quan, địa phương phải rà soát chương trình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các Nghị quyết của Đảng và Văn kiện Hội nghị Trung ương 3. Nhiệm vụ cùng mục tiêu, đối tượng, địa bàn phải được tích hợp; nội dung chồng chéo phải được xử lý; nguồn lực phải điều phối theo mục tiêu chung. Không để nhiều đầu mối cùng làm nhưng không có cơ quan chịu trách nhiệm đến cùng.

Cần phân loại rõ công việc. Việc đã rõ chủ trương, đủ căn cứ và điều kiện phải thực hiện ngay. Việc cần thể chế hóa phải xác định cơ quan, thời hạn, sản phẩm cụ thể. Việc mới, khó, chưa có tiền lệ phải làm rõ nguyên tắc, thẩm quyền, phạm vi thí điểm, nguồn lực, cơ chế kiểm soát. Không lấy lý do chưa có tiền lệ để trì hoãn; cũng không nóng vội, duy ý chí.

Thể chế hóa phải kịp thời, đồng bộ, chuyển chủ trương của Đảng thành quy định rõ ràng, khả thi. Cấp nào có thẩm quyền phải chủ động giải quyết; vấn đề vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay, đồng thời đề xuất phương án xử lý. Không chỉ chuyển văn bản lên cấp trên rồi chờ đợi; không để khoảng trống pháp lý, hướng dẫn thiếu thống nhất làm chậm công việc, phát sinh thêm thủ tục, chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

Về hệ thống chính quyền địa phương 2 cấp, Trung ương không đặt vấn đề sắp xếp, điều chỉnh lại địa giới hành chính cấp xã, vì cơ bản cả hệ thống đang hoạt động ổn định, hiệu quả. Tỉnh, thành phố nào thấy thật sự cần thiết phải điều chỉnh, căn cứ chủ trương của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, quy hoạch, thực tiễn quản trị và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân thì đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định. Phương án đề xuất điều chỉnh địa giới hành chính phải khoa học, thận trọng, khả thi, tạo đồng thuận, phải phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương và phục vụ Nhân dân tốt hơn. Kiên quyết loại bỏ tư tưởng "thuận cán bộ, khổ Nhân dân". Ban thường vụ, Ban chấp hành tỉnh, thành ủy phải chịu trách nhiệm về đề xuất đó.

Tiến độ triển khai Nghị quyết phải được thiết kế trong từng nhiệm vụ. Trong 6 tháng cuối năm 2026, phải bảo đảm bộ máy vận hành thông suốt, xử lý điểm nghẽn cấp bách, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu kinh tế - xã hội. Trong nhiệm kỳ khóa XIV, phải cơ bản thể chế hóa các quyết sách, hoàn thiện phân cấp, phân quyền, tạo nền tảng cho mô hình phát triển mới. Hướng tới năm 2030, năm 2045, phải nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh, khả năng thích ứng và sức chống chịu của đất nước.

Thứ ba, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, bảo đảm đầy đủ các điều kiện thi hành để hệ thống chính trị vận hành thông suốt, tương tác hiệu quả.

Sau một năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 2 cấp, bộ máy hoạt động ổn định, thông suốt, hiệu quả nhưng chất lượng chưa đồng đều, nhất là ở cơ sở. Mục tiêu hiện nay là tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị, phục vụ Nhân dân. Phải tiếp tục hoàn thiện chức năng, thẩm quyền, năng lực thực thi. Phải chuyển mạnh hơn nữa, nhanh hơn nữa từ quản lý sang phục vụ, kiến tạo; từ xử lý phân tán sang quản trị tổng hợp dữ liệu; từ chờ hướng dẫn sang chủ động giải quyết, chịu trách nhiệm.

Tổ chức thực hiện phải đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, phát huy đúng chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan. Bộ Chính trị, Ban Bí thư lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra; Quốc hội và HĐND các cấp thể chế hóa, quyết định, giám sát; Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương bố trí nguồn lực, tổ chức thực hiện; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tuyên truyền, vận động, giám sát, phản biện xã hội. Phải bảo đảm sự liên thông giữa lãnh đạo, thể chế hóa, thực hiện và giám sát; không làm thay chức năng của nhau.

Trung ương tập trung chiến lược, thể chế, nền tảng dùng chung, nguồn lực lớn và kiểm tra. Cấp tỉnh cụ thể hóa chủ trương, tổ chức không gian phát triển, điều phối nguồn lực, bảo đảm điều kiện cho cấp xã hoạt động thông suốt. Cấp xã là tuyến đầu của quản trị công, trực tiếp giải quyết mọi nhu cầu, công việc của người dân, doanh nghiệp; phải đủ năng lực quản trị sự phát triển. Phải tự trưởng thành qua tổ chức triển khai công việc.

Trung ương phân quyền cho địa phương. Cấp tỉnh phân cấp những nhiệm vụ cấp xã có thể làm. Cấp xã phải nỗ lực đảm đương những nhiệm vụ được giao, không đẩy lên trên việc thuộc trách nhiệm của mình. Khi cấp xã thiếu điều kiện thực thi, cấp tỉnh phải chủ động tháo gỡ, nếu nội dung công việc vượt qua thẩm quyền thì báo cáo Trung ương xem xét. Mỗi nhiệm vụ phải có một đầu mối chịu trách nhiệm chính, có cơ chế phối hợp rõ rằng, có nguồn dữ liệu dùng chung và kết quả phải đo, đếm được.

Phân cấp, phân quyền phải đồng bộ với nhân lực, tài chính, dữ liệu, công nghệ và kiểm soát quyền lực. Dữ liệu phải đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, được chia sẻ theo thẩm quyền; chấm dứt việc người dân phải cung cấp lại thông tin Nhà nước đã có trong hệ thống. Hệ thống thông tin phải phục vụ điều hành, cảnh báo, giám sát, quy trách nhiệm; không tạo thêm thủ tục, phần mềm, báo cáo hình thức.

Thứ tư, tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đề cao trách nhiệm nêu gương và vai trò quyết định của người đứng đầu.

Cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức thực hiện. Nghị quyết đúng, nguồn lực đủ nhưng cán bộ thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm, không dám làm thì công việc vẫn trì trệ. Đánh giá cán bộ phải dân chủ, công khai, công tâm, khách quan; gắn với vị trí việc làm, sản phẩm, tiến độ, hiệu quả, uy tín trong Đảng, tín nhiệm trong Nhân dân; lấy kết quả thực hiện nghị quyết làm căn cứ.

Các cấp ủy, địa phương phải bố trí cán bộ đúng năng lực, chuyên môn, nhất là ở cấp xã và vị trí trực tiếp thực thi quyết sách; đào tạo theo vị trí việc làm. Kịp thời thay thế, cho từ chức cán bộ yếu kém, né tránh, đùn đẩy; trọng dụng, bảo vệ cán bộ liêm chính, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phải phân biệt rõ cán bộ dám đổi mới với hành vi lợi dụng thí điểm, chính sách đặc thù hoặc cơ chế bảo vệ cán bộ để vụ lợi, hợp thức hóa, bao che sai phạm.

Người đứng đầu phải trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó, điểm nghẽn kéo dài; kiểm tra tiến độ, lắng nghe cơ sở, doanh nghiệp, Nhân dân; quyết định theo thẩm quyền, chịu trách nhiệm đến cùng. Không chỉ giao việc rồi chờ báo cáo; không nhận thành tích nhưng đẩy trách nhiệm khi chậm trễ. Người lãnh đạo phải sâu sát thực tiễn, hiểu địa bàn, lĩnh vực phụ trách, kịp thời nhận diện và giải quyết vấn đề.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thường xuyên tự soi, tự sửa, nêu gương bằng kết quả cụ thể. Kỷ luật nghiêm minh không phải để cán bộ sợ trách nhiệm, mà để mỗi người biết rõ giới hạn, đúng vai, đúng thẩm quyền, yên tâm đổi mới, cống hiến.

Thứ năm, thiết lập kỷ luật thực thi nghiêm minh; tăng cường kiểm tra, giám sát, thông tin, tuyên truyền và đánh giá bằng dữ liệu, sản phẩm, kết quả thực tế; lấy lợi ích và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo cuối cùng.

Kiểm tra, giám sát phải tiến hành từ đầu, trong suốt quá trình thực hiện, tập trung vào nơi có nguy cơ chậm tiến độ, khâu dễ phát sinh lợi ích nhóm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và vấn đề Nhân dân quan tâm. Phải theo dõi, cảnh báo sớm, tháo gỡ kịp thời; không chờ đến khi nhiệm vụ chậm, nguồn lực bị lãng phí hoặc hậu quả phát sinh mới kiểm tra, xử lý.

Công tác thông tin, tuyên truyền phải được xác định trong từng chương trình hành động; bảo đảm kịp thời, chính xác, dễ hiểu, thuyết phục; làm rõ mục tiêu, lợi ích, lộ trình, trách nhiệm để Nhân dân hiểu đúng, tin tưởng, đồng hành. Phải chủ động đấu tranh với thông tin sai trái, xuyên tạc; đồng thời lắng nghe phản biện có cơ sở. Đồng thuận xã hội trước hết được tạo ra bằng chính sách đúng, thực hiện công bằng, công khai và kết quả người dân cảm nhận được.

Trong mọi chương trình hành động, phải đặt con người ở vị trí trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực. Hiệu quả kinh tế phải thống nhất với hiệu quả xã hội; tăng trưởng đi đôi với tiến bộ, công bằng, văn hóa, môi trường, quốc phòng, an ninh. Không đánh đổi lợi ích lâu dài lấy thành tích trước mắt; không để người yếu thế gánh chi phí bất hợp lý. Giá trị của nghị quyết phải thể hiện ở chất lượng sống, cơ hội phát triển, sự an toàn, niềm tin và hạnh phúc của Nhân dân.

Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Hội nghị hôm nay mở ra giai đoạn tổ chức thực hiện với yêu cầu cao hơn về trách nhiệm, kỷ luật và hiệu quả. Những vấn đề Trung ương đã quyết định phải được chuyển ngay thành chương trình, nhiệm vụ, sản phẩm, kết quả cụ thể. Vì vậy, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, địa phương và người đứng đầu bắt tay ngay vào công việc; xác định đúng trọng tâm, rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, bảo đảm đầy đủ điều kiện thực hiện. Kết quả công việc phải được kiểm chứng bằng chuyển biến thực tế, hiệu quả phục vụ, sự hài lòng của Nhân dân.

“Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi cán bộ, đảng viên phải biến nhận thức thành hành động, quyết tâm thành sản phẩm. Với sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, hành động đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của Nhân dân, chúng ta nhất định đưa các văn kiện Hội nghị Trung ương 3 vào cuộc sống, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh.

Quỳnh Trang - Hoàng Giáp

TIN LIÊN QUAN


































Home Icon VỀ TRANG CHỦ