🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

'Qua miền Tây Bắc' - dấu ấn nghệ thuật trên những chặng đường kháng chiến

6 giờ trước
Từ những thước phim ghi lại trận đánh Đông Khê, những trang văn được khơi nguồn từ thực tiễn kháng chiến đến giai điệu "Qua miền Tây Bắc" vang lên trên đường hành quân, văn học, nghệ thuật đã góp phần phản ánh hiện thực chiến đấu, cổ vũ tinh thần quân và dân ta, đồng thời lưu giữ những dấu ấn của một thời kỳ lịch sử.

Hình ảnh tư liệu trong phim tài liệu "Qua miền Tây Bắc". (Ảnh: Điện ảnh Quân đội nhân dân cung cấp)

Phim tài liệu "Qua miền Tây Bắc" do Điện ảnh Quân đội nhân dân sản xuất gợi lại hành trình sáng tạo của một thế hệ văn nghệ sĩ gắn bó với bộ đội, nhân dân và sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), văn học, nghệ thuật phát triển gắn bó mật thiết với đời sống chiến đấu và lao động của quân, dân ta. Trên những chặng đường hành quân, tại các chiến dịch và vùng căn cứ kháng chiến, nhiều văn nghệ sĩ đã trực tiếp sống cùng bộ đội, đồng bào, tìm kiếm chất liệu sáng tác từ hiện thực gian khổ mà hào hùng của dân tộc.

Tinh thần ấy gắn liền với quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò, trách nhiệm của người nghệ sĩ - Người khẳng định: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Tư tưởng đó trở thành định hướng quan trọng đối với đội ngũ văn nghệ sĩ cách mạng, khơi dậy ý thức đem tài năng, tâm huyết phục vụ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và sự nghiệp xây dựng đất nước.

Trong những năm tháng kháng chiến, các chiến dịch quân sự cũng là môi trường để văn học, nghệ thuật phát triển từ thực tiễn. Chiến dịch Biên giới Thu-Đông năm 1950 đánh dấu bước phát triển quan trọng của cuộc kháng chiến. Ngày 16/9/1950, quân ta nổ súng tiến công cứ điểm Đông Khê, mở màn chiến dịch. Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận theo dõi, chỉ đạo chiến dịch.

Hình ảnh tư liệu trong phim tài liệu "Qua miền Tây Bắc". (Ảnh: Điện ảnh Quân đội nhân dân cung cấp)

Từ vị trí quan sát trên núi Báo Đông, Người sáng tác bài thơ chữ Hán "Đăng sơn", thường được biết đến với tên gọi "Lên núi", thể hiện tinh thần lạc quan và ý chí vượt qua khó khăn. Cũng trong chiến dịch này, những người làm điện ảnh cách mạng đã có mặt tại chiến trường, ghi lại hình ảnh cuộc chiến đấu bằng máy quay.

Các phim tư liệu "Trận Đông Khê", "Trao đổi tù binh ở Thất Khê" lưu giữ những hình ảnh về hoạt động chiến đấu của quân đội ta, phục vụ công tác tuyên truyền trong kháng chiến và trở thành nguồn tư liệu lịch sử có giá trị. Trong điều kiện phương tiện, kỹ thuật còn hạn chế, việc ghi hình tại chiến trường đòi hỏi sự dũng cảm, khả năng quan sát và tinh thần trách nhiệm của những người làm điện ảnh.

Những khuôn hình được thực hiện giữa hoàn cảnh chiến đấu gian khổ vừa phản ánh hiện thực, vừa ghi dấu những nỗ lực của các nghệ sĩ trong buổi đầu xây dựng nền điện ảnh cách mạng Việt Nam.

Cùng với điện ảnh, văn học, hội họa, âm nhạc và nhiếp ảnh cũng tìm thấy nguồn cảm hứng từ đời sống kháng chiến. Những trang viết, nét vẽ, giai điệu được hình thành từ trải nghiệm thực tế đã phản ánh chân dung người lính, đồng bào các dân tộc, những đoàn dân công và cuộc sống trên các vùng căn cứ.

Qua những tác phẩm ấy, đời sống tinh thần của quân và dân ta trong kháng chiến được lưu giữ bằng những hình thức biểu đạt nghệ thuật phong phú. Lấy các dấu mốc lịch sử và những sáng tác tiêu biểu làm chất liệu, phim tài liệu "Qua miền Tây Bắc" tập trung khai thác mối quan hệ giữa hiện thực chiến đấu với quá trình sáng tạo nghệ thuật.

Qua câu chuyện về tác phẩm và người sáng tạo, bộ phim góp phần làm rõ sự gắn bó giữa văn nghệ sĩ với bộ đội, nhân dân trong những năm tháng kháng chiến.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Hiệp, tác giả kịch bản, việc tìm hiểu các tác phẩm ra đời trong kháng chiến cũng là hành trình khám phá những giá trị tinh thần góp phần tạo nên sức mạnh dân tộc.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Hiệp - người viết kịch bản phim. (Ảnh: Điện ảnh Quân đội nhân dân cung cấp)

Kịch bản lựa chọn các dấu mốc lịch sử và sáng tác tiêu biểu nhằm làm rõ vị trí của văn học, nghệ thuật trong cuộc đấu tranh giành độc lập, đồng thời cho thấy sự gắn bó giữa người nghệ sĩ với nhân dân và đất nước.

Chia sẻ về quá trình viết kịch bản, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Hiệp cho biết: "Lịch sử sẽ trở nên sống động hơn khi chúng ta nhìn thấy con người ở trong đó. Những người lính chiến đấu trên chiến trường, đồng bào Tây Bắc góp sức cho kháng chiến và những văn nghệ sĩ đi cùng bộ đội đều là những phần của lịch sử".

"Với các văn nghệ sĩ, họ đến chiến trường không phải với tư cách những người đứng ngoài để quan sát. Họ sống cùng bộ đội, đi trên những con đường hành quân, chứng kiến chiến đấu và từ chính hiện thực ấy tìm được chất liệu, cảm xúc cho sáng tác. Tôi muốn bộ phim thể hiện được mối quan hệ rất đặc biệt giữa chiến đấu và sáng tạo nghệ thuật trong những năm tháng ấy", ông nói.

Ca khúc "Qua miền Tây Bắc" gắn bó với tên tuổi nhạc sĩ Nguyễn Thành. (Ảnh: Điện ảnh Quân đội nhân dân cung cấp)

Với một bộ phim tài liệu khai thác đề tài văn học, nghệ thuật trong chiến tranh, việc tìm kiếm, thẩm định và kết nối tư liệu là yêu cầu quan trọng đối với ê-kíp sáng tác. Mỗi loại hình nghệ thuật có đặc trưng riêng; mỗi tác phẩm gắn với một hoàn cảnh ra đời, một câu chuyện sáng tạo và dấu ấn cá nhân. Việc lựa chọn, sắp xếp các chất liệu đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng, bảo đảm tính xác thực của lịch sử và sự thống nhất trong cách thể hiện chủ đề.

Trong "Qua miền Tây Bắc", những dấu mốc lịch sử được đặt trong mối liên hệ với hành trình sáng tạo của các văn nghệ sĩ. Từ Chiến dịch Biên giới năm 1950 đến Chiến dịch Tây Bắc năm 1952, bộ phim tái hiện bối cảnh mà hiện thực chiến đấu, cuộc sống của bộ đội và nhân dân trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều sáng tác.

Thông qua phim tư liệu, hình ảnh lịch sử và câu chuyện về các tác phẩm, bộ phim góp phần phản ánh đời sống tinh thần của quân và dân ta trong kháng chiến. Đáng chú ý, những hình ảnh được ghi lại ngay trong thời kỳ chiến tranh mang giá trị tư liệu riêng biệt.

Qua nhiều thập kỷ, các khuôn hình vẫn giúp công chúng tiếp cận những sự kiện lịch sử bằng hình ảnh trực quan, đồng thời cho thấy điều kiện lao động, sáng tạo của những người làm điện ảnh cách mạng buổi đầu. Trong mạch kể về văn hóa, văn nghệ, tư liệu điện ảnh còn giúp người xem nhận diện cách người nghệ sĩ quan sát, ghi chép và lưu giữ hiện thực.

Đại tá Phạm Thanh Hùng, đạo diễn phim tài liệu "Qua miền Tây Bắc". (Ảnh: Điện ảnh Quân đội nhân dân cung cấp)

Đại tá Phạm Thanh Hùng, đạo diễn phim tài liệu "Qua miền Tây Bắc", chia sẻ quá trình thực hiện bộ phim đặt ra nhiều khó khăn trong khai thác tư liệu. Theo ông, cái khó, cũng là thử thách lớn nhất khi bắt đầu thực hiện một bộ phim về văn hóa, văn nghệ là việc khai thác tư liệu. Trước đây, khi làm phim về lịch sử, về các chiến dịch hay chiến thắng, dù tư liệu có ít, ê-kíp vẫn có thể tìm kiếm, sưu tầm hoặc mua thêm những tư liệu phù hợp để xây dựng bộ phim. Nhưng với đề tài văn học, nghệ thuật thì khó hơn.

Ê-kíp đã tìm hiểu các văn nghệ sĩ, nghiên cứu những tác phẩm của họ và lựa chọn những tác phẩm gắn với cuộc kháng chiến trong từng giai đoạn. Làm thế nào để thông qua những tác phẩm, những bức tranh, hình ảnh ấy mà thể hiện được thời gian, không khí của cả một giai đoạn lịch sử là điều không đơn giản. Có những tác phẩm rất tốt nhưng không phải tác phẩm nào cũng phù hợp nội dung và yêu cầu của bộ phim.

Một trong những câu chuyện được bộ phim nhắc đến là sự ra đời của ca khúc "Qua miền Tây Bắc" của nhạc sĩ Nguyễn Thành. Năm 1952, trong hành trình hành quân vào Tây Bắc, nhạc sĩ đã sáng tác bài hát trên đèo Khâu Vác. Với giai điệu hào sảng, giàu sức cổ vũ, tác phẩm thể hiện khí thế của những đoàn quân tiến bước và tinh thần lạc quan trong cuộc kháng chiến.

Tác phẩm hội họa chủ đề về Tây Bắc. (Ảnh: Điện ảnh Quân đội nhân dân cung cấp)

Ra đời từ trải nghiệm thực tế, ca khúc gắn với không khí hành quân và nhiệm vụ giải phóng vùng đất Tây Bắc. Tác phẩm kết hợp cảm xúc của người chiến sĩ với âm hưởng của một vùng đất đang hướng tới ngày giải phóng, trở thành một sáng tác tiêu biểu gắn với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Cùng với âm nhạc, văn học cũng lưu giữ những trải nghiệm sâu sắc của các văn nghệ sĩ trên những chặng đường kháng chiến. Nhà văn Tô Hoài, qua những chuyến đi và thời gian gắn bó với đồng bào Tây Bắc, đã tích lũy chất liệu để sáng tác "Truyện Tây Bắc", tập truyện được trao giải Nhất Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1954-1955.

Qua các trang viết, đời sống và số phận của con người miền núi được phản ánh trong mối quan hệ với những biến chuyển của xã hội, qua đó góp phần làm phong phú diện mạo văn học Việt Nam thời kỳ kháng chiến. Những sáng tác ấy mở rộng cách tiếp cận hiện thực kháng chiến. Cùng với chiến thắng và sự kiện quân sự, tác phẩm văn học, nghệ thuật còn phản ánh đời sống nhân dân, những chuyển biến trong nhận thức, tình cảm và khát vọng của con người. Qua đó, Tây Bắc hiện lên vừa là địa bàn chiến đấu quan trọng, vừa là vùng đất giàu bản sắc văn hóa, nơi đồng bào các dân tộc có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp kháng chiến.

Việc tiếp tục sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và giới thiệu di sản văn học, nghệ thuật thời kháng chiến có ý nghĩa thiết thực đối với công tác giáo dục truyền thống và bồi đắp tình yêu quê hương, đất nước cho thế hệ trẻ.

Phim tài liệu "Qua miền Tây Bắc" gợi nhắc một phương diện đáng trân trọng của lịch sử kháng chiến, đó là giữa hy sinh gian khổ, các văn nghệ sĩ vẫn bền bỉ sáng tạo, lưu giữ hình ảnh đất nước và con người bằng ngôn ngữ riêng của từng loại hình nghệ thuật. Những tác phẩm ra đời từ thực tiễn chiến tranh cách mạng đã trở thành một phần di sản văn hóa dân tộc, góp phần bồi đắp đời sống tinh thần và khẳng định trách nhiệm của văn học, nghệ thuật đối với đất nước.

THỤY PHƯƠNG

TIN LIÊN QUAN
Sáng mãi niềm tin
Báo Lạng Sơn 3 ngày trước




















Home Icon VỀ TRANG CHỦ