🔍
Chuyên mục: Môi trường - Khí hậu

Phòng ngừa hiệu quả để giảm nỗi đau thiên tai

8 giờ trước
Mỗi năm, mưa bão, lũ lụt, thiên tai lại cuốn đi nhiều, rất nhiều thành quả lao động của đồng bào ta, và đe dọa trực tiếp tới sinh mạng con người. Nỗi đau thiên tai sẽ được giảm nhẹ, nếu 'văn hóa phòng ngừa' được triển khai hiệu quả, có hệ thống và đồng bộ.

Theo công bố của Cục Quản lý Đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), từ ngày 15 -20/7, ước tính tổng thiệt hại về kinh tế do mưa lũ, sạt lở đất gây ra đối với các tỉnh miền núi phía Bắc, gồm: Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Lào Cai… là khoảng 502,76 tỷ đồng. Chỉ riêng tại Lai Châu, mưa lũ, sạt lở đất đã làm 8 người chết và mất tích và 10 người bị thương, hàng trăm ngôi nhà bị sập đổ, hư hỏng, ngập nước, nguy hiểm, phải di dời, sơ tán khẩn cấp.

Hiện trường tan hoang sau khi lũ dữ đi qua tại khu vực đội 11, xã Mường Than tỉnh Lai Châu. Ảnh: Quý Trung - TTXVN

Những mái nhà bị cuốn trôi, những khu dân cư tan hoang và cả những sinh mạng không bao giờ trở về… Mới chỉ bắt đầu vào mùa mưa bão năm nay, đã xuất hiện những thiệt hại đau đớn về người và của và những hình ảnh tang thương từ vùng lũ như vậy.. Nhìn lại những năm trước, thiên tai đã từng gây nên những mất mát tang thương không gì bù đắp nổi, gần nhất là siêu bão Yagi (năm 2024) gây mưa lớn, lũ lụt diện rộng và sạt lở đất nghiêm trọng tại Bắc Bộ. Điển hình là thảm họa sạt lở tại Làng Nủ (Lào Cai) gây thiệt hại đặc biệt lớn về người. Năm nay, điều đáng lo là mùa mưa bão mới chỉ bắt đầu. Những hình ảnh đau lòng từ Lai Châu, Sơn La hay Điện Biên cho thấy thiên tai năm nay sẽ không hề dễ chịu. Các cơ quan chuyên môn dự báo số lượng bão trên Biển Đông có thể không nhiều hơn trung bình nhiều năm, nhưng nguy cơ xuất hiện những cơn bão rất mạnh, thậm chí siêu bão, cùng diễn biến đường đi khó lường vẫn hiện hữu. Trong khi đó, mưa cực đoan, lũ quét và sạt lở đất ở miền núi tiếp tục là những hiểm họa thường trực.

Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta không có quyền chủ quan, bởi chỉ một vài giờ mưa lớn cũng có thể làm thay đổi số phận của cả một bản làng. Mỗi cơn mưa lớn, mỗi đợt áp thấp nhiệt đới hay mỗi cảnh báo sạt lở đều có thể trở thành thảm họa nếu công tác dự báo, cảnh báo, sơ tán và ứng phó không được triển khai kịp thời, quyết liệt và đến đúng từng người dân.Thiên tai là điều không quốc gia nào có thể ngăn chặn hoàn toàn mà chỉ có thể thay đổi là mức độ thiệt hại. Khoảng cách giữa một thảm họa và một rủi ro có thể kiểm soát được nhiều khi không nằm ở sức mạnh của thiên nhiên, mà nằm ở năng lực dự báo, cảnh báo và tổ chức ứng phó của con người.

Nhiều năm qua, nước ta đã đầu tư đáng kể cho hệ thống khí tượng thủy văn, bản đồ nguy cơ sạt lở, công nghệ viễn thám, dữ liệu số và các mô hình dự báo hiện đại... Năng lực dự báo thiên tai đã có bước tiến rõ rệt so với trước đây. Tuy nhiên, một bản tin dự báo chỉ thật sự có giá trị khi thông tin đó đến được với người dân đúng thời điểm và đủ để họ hành động. Nếu cảnh báo vẫn dừng ở các cơ quan chức năng, nếu người dân ở vùng sâu, vùng xa chưa nhận được thông tin hoặc không biết phải làm gì khi nhận được cảnh báo, thì khoảng cách từ công nghệ đến cuộc sống vẫn còn rất xa.

Đó cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng, điều cần thiết hiện nay không chỉ là nâng cao độ chính xác của dự báo mà còn phải hoàn thiện toàn bộ chuỗi quản trị rủi ro thiên tai. Thực tế cho thấy, chỉ cần một khâu trong công tác phòng, chống thiên tai bị chậm trễ thì hậu quả có thể tăng lên rất nhiều. Dữ liệu dự báo dù chính xác đến đâu cũng trở nên vô nghĩa nếu cảnh báo không đến được người dân; việc sơ tán dù được chuẩn bị kỹ cũng khó phát huy hiệu quả nếu diễn ra quá muộn. Phòng ngừa thiên tai vì thế là một chuỗi hành động liên hoàn, trong đó không mắt xích nào được phép lỏng lẻo.

Những năm gần đây, công nghệ đã mở ra nhiều cơ hội mới cho công tác phòng, chống thiên tai. Trí tuệ nhân tạo có thể hỗ trợ phân tích lượng mưa, dự báo nguy cơ sạt lở; hệ thống cảm biến và camera giúp theo dõi diễn biến theo thời gian thực; dữ liệu lớn hỗ trợ xác định các khu vực rủi ro cao…. Quan trọng hơn, các nền tảng số có thể đưa cảnh báo đến từng người dân trong thời gian rất ngắn. Công nghệ không thay con người chống lại thiên nhiên, nhưng có thể giúp con người có thêm thời gian để bảo vệ tính mạng.

Dẫu vậy, công nghệ chỉ là một phần của lời giải. Điều quan trọng hơn là xây dựng được một "văn hóa phòng ngừa". Ở nhiều quốc gia thường xuyên đối mặt với thiên tai, người dân được tập huấn định kỳ, học sinh được học kỹ năng ứng phó ngay từ trường học, cộng đồng thường xuyên diễn tập sơ tán. Khi có tín hiệu cảnh báo, mọi người đều biết mình cần làm gì. Chính sự chuẩn bị đó đã giúp giảm đáng kể thiệt hại về người, ngay cả khi thiên tai có cường độ rất lớn. Ở nước ta, sau thảm họa Làng Nủ năm 2024, nhiều địa phương miền núi đã rà soát lại các khu vực có nguy cơ sạt lở và xây dựng phương án sơ tán dân. Đó là tín hiệu tích cực, nhưng rõ ràng vẫn chưa đủ. Một "văn hóa phòng ngừa" chỉ thực sự hình thành khi kỹ năng ứng phó trở thành thói quen của mỗi người dân, từ học sinh trong trường học đến từng hộ gia đình ở vùng có nguy cơ thiên tai.

Ở nước ta, trong nhiều trường hợp, việc sơ tán gặp khó khăn. Có nơi, cảnh báo đã được phát đi nhưng người dân chưa thực sự tin mức độ nguy hiểm; có nơi, điều kiện sinh kế khiến họ chấp nhận ở lại trong vùng có nguy cơ cao. Điều này cho thấy, ngoài đầu tư cho hạ tầng kỹ thuật, cần đầu tư nhiều hơn cho truyền thông, giáo dục kỹ năng phòng ngừa thiên tai cho người dân.

Một khía cạnh khác cũng cần được nhìn nhận là quy hoạch phát triển. Không ít khu dân cư vẫn nằm ở những vị trí có nguy cơ sạt lở cao; nhiều công trình được xây dựng khi chưa tính hết tác động của thiên tai.

Biến đổi khí hậu đang khiến các hiện tượng thời tiết cực đoan xuất hiện với tần suất cao hơn, khó lường hơn và cường độ mạnh hơn. Vì vậy, cách tiếp cận dựa trên kinh nghiệm quá khứ sẽ không còn đủ. Tư duy quản trị cũng cần thay đổi từ phản ứng sau thiên tai sang chủ động phòng ngừa; từ khắc phục hậu quả sang giảm thiểu rủi ro; từ ứng cứu đơn lẻ sang quản trị tổng thể dựa trên dữ liệu và khoa học.

Mỗi mùa mưa bão, tinh thần tương thân tương ái của người Việt Nam lại được khơi dậy mạnh mẽ. Những đoàn xe cứu trợ nối dài, những cán bộ, chiến sĩ không quản hiểm nguy để cứu dân, những tấm lòng sẻ chia từ khắp mọi miền đất nước luôn là hình ảnh đẹp, đáng trân trọng. Nhưng điều người dân mong muốn hơn cả là những chuyến xe cứu trợ sẽ ít phải lăn bánh hơn, bởi thiệt hại đã được giảm xuống từ trước khi thiên tai xảy ra.

Các lực lượng nỗ lực khắc phục hậu quả mưa lũ tại xã Mường Than. Ảnh: Quý Trung - TTXVN

Sau mỗi trận lũ, điều day dứt nhất luôn là những sinh mạng đã mất, những mái nhà bị cuốn trôi. Điều cần làm hôm nay là biến những bài học đau xót của thiên tai thành hành động cụ thể trong công tác quản trị rủi ro, quy hoạch phát triển và xây dựng văn hóa phòng ngừa. Khi mỗi người dân đều biết cách tự bảo vệ mình, mỗi địa phương đều chủ động trước các tình huống cực đoan và mỗi quyết định phát triển đều đặt sự an toàn của con người lên trước hết, đó mới là thước đo về năng lực thích ứng trước biến đổi khí hậu.

Đó sẽ là lúc chúng ta không còn phải chứng kiến những con số và hình ảnh đau xót lặp đi lặp lại sau mỗi mùa mưa lũ.

Thùy Hương

TIN LIÊN QUAN


































Home Icon VỀ TRANG CHỦ