Phja Bjoóc – Núi Cứu Quốc

Núi Phja Bjoóc nhìn từ phường Bắc Kạn.
Tên gọi “Núi Cứu Quốc” được đồng chí Văn (Võ Nguyên Giáp) đặt vào cuối năm 1943, sau khi hai cánh quân Nam tiến và Bắc tiến gặp nhau. Cái tên ấy không phải ngẫu nhiên, mà gắn với cả một quá trình gây dựng phong trào rất gian nan.
Đầu năm 1943, dưới sự chỉ huy của đồng chí Võ Nguyên Giáp, các đội Nam tiến từ Nguyên Bình tỏa xuống Bắc Kạn theo hai hướng. Một hướng men theo núi, đi vào vùng đồng bào Dao từ Ngân Sơn xuống xã Hà Hiệu, châu Chợ Rã (nay là xã Phúc Lộc), rồi vượt Phja Bjoóc để xuống phía Chợ Đồn. Hướng còn lại đi qua Ngân Sơn xuống Phủ Thông, xây dựng cơ sở trong vùng người Tày, Nùng.
Đội Trần Phú do đồng chí Nông Văn Quang phụ trách nhận nhiệm vụ khá nặng: mở đường, gây dựng cơ sở và tìm cách nối liên lạc với Cứu quốc quân ở Định Hóa. Đến giữa năm 1943, “con đường quần chúng” từ Khau Giáng xuống Phúc Lộc đã cơ bản thông. Hàng trăm người dân tham gia Việt Minh – một kết quả không hề dễ trong hoàn cảnh lúc bấy giờ.
Từ Hà Hiệu, lực lượng tiến dần về phía Phja Bjoóc, xây dựng cơ sở ở Khuổi Nặm (thuộc xã Thượng Minh hiện nay). Chuyến đi tháng 9-1943 được đồng chí Nông Văn Quang ghi lại khá sinh động trong Hồi ký Con đường Nam tiến: “Chập tối ngày 14/9/1943, chúng tôi lên đường sang Phja Bjoóc dưới ánh trăng giữa tháng Tám. Chúng tôi đi an toàn, trót lọt. Một thanh niên đi đầu dẫn đường, tiếp đó là Nguyên Tài, tôi đi thứ ba và một thanh niên đi sau cùng.
Tới Khuổi Nặm, chúng tôi vào nhà ông Triệu Hữu Châu thì trời bắt đầu tờ mờ sáng. Khi mọi người tới đông đủ, ông Châu tay cầm nén hương đi tới, ông trịnh trọng vái bốn phương rồi quay vào trước cuộc họp nói như đọc lời thề: Hôm nay chúng ta cùng vào Hội Việt Minh, chúng ta đoàn kết một lòng đánh Tây, Nhật để giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột, giành độc lập cho nước Việt Nam, thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, nam nữ bình quyền…” .
Tại Khuổi Nặm, ngay nương của hội viên, cán bộ Việt Minh mở lớp huấn luyện cho những quần chúng tích cực trong vùng. Sau đó đoàn dọc theo núi Phja Bjoóc xuống phát triển cơ sở ở Nặm Tốc.
Sau đợt ấy, đồng chí Nông Văn Quang về Nặm Lạ, Nguyên Bình tìm gặp đồng chí Văn để báo cáo kết quả. Nghe xong, đồng chí Văn tỏ ý vui mừng đã động viên cổ vũ. Để kỷ niệm cho thắng lợi đầu tiên này, đồng thời ghi nhận một cao trào cách mạng đang hình thành, đồng chí Văn đã đặt tên cho núi Phja Bjoóc là núi Cứu Quốc.

Nồi đồng của ông Triệu Đức Vần, ở bản Píc Cáy trên núi Phja Bjoóc, dùng nấu cơm tiếp tế cho đồng chí Võ Nguyên Giáp những năm 1943-1945, hiện được trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 1.
Núi Cứu Quốc cũng là địa bàn hoạt động của đồng chí Võ Nguyên Giáp, gắn với các địa danh như Nà Đông, Píc Cáy, Nà Lồm; trong đó Nà Lồm, xã Đôn Phong (nay thuộc xã Phong Quang) từng chở che vị Đại tướng tương lai trong những ngày địch khủng bố cách mạng vào tháng 1/1944.
Hồi ký Từ nhân dân mà ra của Đại tướng ghi lại: “Bà con tại Nà Lồm được tin đồng chí Đức Xuân bị hại, tỏ vẻ lo ngại. Một số đồng bào khuyên chúng tôi nên lánh vào rừng. Nà Lồm là một bản hẻo lánh ở trên triền núi Phja Bjoóc cao hơn mặt biển hàng ngàn thước. Chúng tôi rút lên rừng vầu, ở lại ít ngày, đợi điều tra rõ tin tức về đồng chí Đức Xuân. Đêm đến, trời lạnh cắt da cắt thịt. Quần áo, chăn màn thiếu thốn, đêm nằm như có muôn vàn chiếc kim từ trên châm xuống, từ dưới châm lên…”.
Trước sự khủng bố, lùng sục gắt gao của địch, gia đình ông Triệu Khánh Phung cùng các con đã vào rừng ẩn náu, đồng thời bí mật tiếp tế lương thực cho đồng chí Văn và đoàn công tác. Sau ít ngày ở Nà Lồm, ông Phung cử con trai là Triệu Thừa Quang (bí danh Hội Viên) dẫn đường đưa đoàn tới Píc Cáy (nay thuộc xã Thượng Minh) an toàn; ngay từ tối hôm trước, anh đã chuẩn bị nơi ẩn náu, lo cơm nước và ống cơm lam cho cả hành trình.
Theo lối mòn của thợ săn trên dãy Phja Bjoóc, đoàn đi trót lọt, và được ghi lại trong hồi ký của Đại tướng: “Chúng tôi tiếp tục đi trở về Cao Bằng. Để đề phòng sự bất trắc, chúng tôi không đi theo đường cũ, mà đi ngược theo dãy núi Phja Bjoóc.
Đồng chí Mán dẫn đường chiếu hướng Bắc, dùng dao phát cây mở lối đi dọc trên những đỉnh núi. Tiết trời đã về cuối đông, trên núi cao càng giá buốt. Nhiều lúc cả đoàn đang đi trong mưa mau, rét tê tái, nhìn xuống chân núi lại thấy nắng vàng rực trải ra trên những cánh đồng. Nghĩ đến một ngày mai tươi sáng tự do đi lại trên nẻo đường bằng phẳng của đất nước, cảm thấy người ấm lại”.
Núi Cứu Quốc cũng ghi dấu chân Bác Hồ trong hành trình lịch sử từ Pác Bó về Tân Trào, khi Người từ châu lỵ Chợ Rã qua Kéo Cảo qua bản Pác Phai, đi qua Phja Cào, Lũng Quốc, Nà Hai trên núi Phja Bjoóc vào ngày 14/5/1945, và nghỉ đêm tại Bản Chán, xã Đồng Phúc.
Trong kháng chiến chống Pháp đây cũng là căn cứ cách mạng, nơi đặt các cơ quan của tỉnh Bắc Kạn và một số cơ quan như Báo Cứu Quốc, Báo Sự Thật… và cũng là nơi thành lập Chi bộ Hoa Sơn vào năm 1946, chi bộ đảng đầu tiên của huyện Bạch Thông.
Nhà văn Tô Hoài khi làm Báo Cứu Quốc ở núi này những năm 1947-1948 từng viết: “Phja Bjoóc - tên là núi Hoa không phải rặng núi hùng vĩ này bốn mùa hoa nở. Các cụ người Dao kể rằng, trong những con suối trên núi đá cao ở đây, đêm đêm nước tuôn sáng lấp lánh. Người Dao thường đi đãi cát lấy vẩy vàng ròng, vàng cốm về đánh vòng vàng chơi tết và làm của. Vàng bạc chảy như bóng hoa nở đêm trong suối, bởi thế mà tên là núi Hoa...”.
Ông viết thêm: Những ngày sôi nổi của quân và dân Cao Bắc Lạng mở đường Nam tiến vắt qua các làng Dao trên núi Cứu Quốc. Đồng chí Hoàng, người Dao, đồng chí Đức Xuân, người Tày đã hy sinh trên đường chiến đấu.
Các làng Dao ở Cốc Phường, ở Vằng Kheo, ở Píc Cáy, bây giờ suốt đêm lửa sưởi còn kể lại chuyện đồng chí Văn, đồng chí Tống (đồng chí Phạm Văn Đồng) đã về công tác ở núi này. Và bộ đội “Ông Cụ” - bộ đội Cụ Hồ - đã có lần hành quân qua rồi sang bên kia núi đi về phía Chợ Đồn. Rồi những ngày phát xít Nhật bại trận, cờ đỏ sao vàng ta phấp phới ra khắp các cánh đồng Việt Bắc.

Bốn nhà văn, nhà báo: Tô Hoài, Xuân Thủy, Nam Cao - Báo Cứu Quốc (thứ nhất, thứ hai và thứ tư từ trái qua) và Nguyễn Huy Tưởng - Báo Văn nghệ. Ảnh T.L
Cùng thời gian đó, nhà văn Nam Cao lên núi Phja Bjoóc làm Báo Cứu quốc. Tại đây, ông đã viết truyện ngắn Đôi mắt và Nhật ký ở rừng. Nam Cao kể nhiều chuyện ở Phja Bjoóc: “Người ta không biết tiếng Kinh. Tiếng Tày cũng biết ít thôi. Mình nói, họ cũng lắc đầu: “Nắm chắc” (Không biết.) Nhưng hỏi đến Cụ Hồ thì ai cũng “chắc” (biết). “Chắc” cả đồng chí Văn, đồng chí Thạch (Dương Mạc Thạch).
Vì không nói cho họ hiểu được, mới đầu mọi người cứ ăn cơm muối tràn. Hỏi mua gì họ cũng “nắm mì” (không có), về sau học được lối của Tô Hoài: muốn gì, cứ bảo họ “pay đông” (đi rừng) hay “pay cơ au hâử khỏi”(đi cơ lấy cho tôi - cơ tức là lán bí mật của người Dao). Quả nhiên, có rau ăn.
Họ bán rất rẻ, ít thì cho không, không chịu lấy tiền. Trông những làng Dao xơ xác, lèo tèo, buồn như một cái gì sắp tắt. Thế mà người Dao tốt. Nhắc đến chuyện những nhà cách mạng hoạt động ở đây hồi bí mật, họ nói: Cần cách mạng khỏ lai (Người cách mạng khổ lắm!)”
Tại thác Tát Nghiều dưới chân Phja Bjoóc, nơi sơ tán của Ty Thông tin Bắc Kạn năm 1948, nhà thơ Nông Quốc Chấn, Trưởng Ty Thông tin Bắc Kạn đã sáng tác bài thơ “Khâu áo” có hai câu rất nổi tiếng:
Khi nghe gió thổi qua Phja Bjoóc
Em biết mùa thu đã hết rồi.
Với vẻ đẹp hùng vĩ, giàu tài nguyên và vị trí đặc biệt trong lịch sử cách mạng, Phja Bjoóc thật xứng đáng với tên gọi “Núi Cứu Quốc” – cái tên do Đại tướng Võ Nguyên Giáp đặt cho.
Kim Kim
34 phút trước
1 giờ trước
4 phút trước
52 phút trước
2 phút trước
10 phút trước
18 phút trước
19 phút trước
23 phút trước
29 phút trước
31 phút trước
33 phút trước
38 phút trước
39 phút trước
41 phút trước