Nông nghiệp Việt trong kỷ nguyên xanh: Tạo sức bật từ chính sách công
Trò chuyện với KTSG Online, TS Trần Công Thắng, Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhấn mạnh đầu tư công cần đóng vai trò ‘đòn bẩy’ để huy động nguồn lực tư nhân và toàn xã hội cho nông nghiệp xanh. Theo đó, trọng tâm trong giai đoạn tới gồm ưu tiên vốn cho các vùng, ngành hàng có giá trị gia tăng cao; đẩy mạnh chuyển đổi xanh, đổi mới công nghệ và số hóa; kích hoạt nguồn lực tư nhân thông qua cơ chế liên kết công - tư.
- KTSG Online: Xin ông chia sẻ về tình hình đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp xanh những năm gần đây?
- TS Trần Công Thắng: Vốn đầu tư cho nông nghiệp chiếm chưa tới 5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thấp hơn rất nhiều nếu so với tương quan đóng góp của ngành cho nền kinh tế giai đoạn vừa qua - khoảng 12% GDP, sử dụng gần 27% lực lượng lao động.
Hơn nữa, hoạt động đầu tư công trong nông nghiệp vẫn tập trung vào khu vực truyền thống của ngành mà chưa tập trung sâu vào những đột phá R&D, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, phát triển vùng nguyên liệu được tổ chứ bài bản, chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn, hạ tầng - dịch vụ logistics.

Vùng trồng cà phê theo hướng nông nghiệp bền vững nhìn từ trên cao. Ảnh minh họa: H.T
Trong bối cảnh Đảng và Chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số, cùng với đó là yêu cầu bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng của tăng trưởng (xem môi trường là 1 trong 3 trụ cột của phát triển bền vững, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa kinh tế với môi trường) và thích ứng với tiêu chuẩn xanh, tuần hoàn và bền vững của các thị trường quốc tế, thì ngành nông nghiệp phải đổi mới tư duy trong đầu tư cho sản xuất nông nghiệp để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, phát triển các mô hình kinh tế mới, bền vững.
Xét theo cơ cấu lĩnh vực đầu tư trong nông nghiệp, Việt Nam cần từng bước điều chỉnh để đạt được sự cân bằng hợp lý giữa đầu tư cho cơ sở hạ tầng cứng và đầu tư cho các lĩnh vực có giá trị gia tăng và tính bền vững cao hơn. Nhìn tổng thể cả nước, các lĩnh vực này bao gồm cả chuyển đổi nông nghiệp xanh, tự động hóa trong sản xuất nông nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào, giảm phát thải và phát triển nông nghiệp tuần hoàn.
- Vậy ngành nông nghiệp đối mặt với những thách thức gì trong quá trình chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững?
Có 5 khó khăn chính với ngành. Thứ nhất, sự sẵn sàng, kiến thức, kỹ năng của người dân và doanh nghiệp về các mô hình kinh tế mới còn hạn chế. Hơn nữa, khả năng đổi mới, sáng tạo trong không gian số và bối cảnh thị trường mới của ngành nông nghiệp (nhất là các khu vực nông hộ và doanh nghiệp nhỏ, vừa và siêu nhỏ) là thách thức lớn.
Thứ hai, thể chế và chính sách chưa đồng bộ. Thậm chí, thiếu các hướng dẫn, tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể để giúp nhà quản lý, người dân, nông hộ và doanh nghiệp nhận biết và lựa chọn các mô hình phù hợp.
Thứ ba, vốn cho đầu tư, khoa học, công nghệ, năng lực số còn hạn chế. Thứ tư, liên kết vùng, địa phương, doanh nghiệp, liên kết chuỗi giá trị còn hạn chế.
Thứ năm, hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, cơ chế chia sẻ chưa hoàn thiện. Còn hạ tầng cứng và mềm vẫn cần phát triển đồng bộ hơn.
- Việc đầu tư cho đổi mới sáng tạo và khoa học - công nghệ cũng vướng phải một số rào cản mang tính cấu trúc, ông có thể chia sẻ thêm?
Trước hết, thiếu tư duy và tầm nhìn trong việc đổi mới định hướng đầu tư. Bên cạnh đó, ngành còn phải giải bài toán tổ chức, xây dựng được nhiều mô hình đầu tư cho đổi mới hiệu quả để nhân rộng.
Quy mô sản xuất hiện khá hạn chế do đất đai manh mún. Cụ thể, diện tích canh tác bình quân của mỗi hộ nông dân Việt Nam chỉ khoảng 0,3-0,5 ha, với trên 80% hộ canh tác dưới 1 ha thì mỗi hộ sẽ canh tác phân tán trên 5 mảnh nhỏ. Điều này khiến chi phí giao dịch để áp dụng công nghệ, chứng nhận chất lượng và tiếp cận tín dụng chính thức rất cao.

Một góc cánh đồng chuyên canh giống lúa năng suất cao, thích ứng với biến đổi khí hậu. Ảnh minh họa: H.T
Hơn nữa, chi phí đầu tư cho đổi mới còn khá lớn. Theo báo cáo khí hậu và phát triển quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB), lộ trình phát triển chống chịu khí hậu và trung hòa carbon đòi hỏi thêm lượng vốn đầu tư mới tương ứng khoảng 6,8% GDP trong giai đoạn từ nay tới năm 2040 - tương đương 368 tỉ đô la Mỹ. Trong khi dó, các sản phẩm tài chính xanh chưa tạo đủ động lực thúc đẩy các bên tham gia do chi phí và khả năng tiếp cận vốn khó khăn.
Còn thị trường trái phiếu xanh, bảo hiểm nông nghiệp theo chỉ số thời tiết và cơ chế tín chỉ carbon hiện vẫn trong giai đoạn xây dựng. Thậm chí, ADB từng phối hợp cùng BIDV và các đối tác quốc tế thực hiện khoản vay bền vững hợp vốn trị giá 250 triệu đô la để lấp khoảng trống tài chính xanh tại Việt Nam vào năm 2025.
Đặc biệt, ngành nông nghiệp vẫn cần thêm lực lượng tiên phong sẵn sàng cho đổi mới như nông dân tri thức, hệ thống hợp tác xã và doanh nghiệp tiên phong, sẵn dàng giữ vai trò ‘đầu tàu’ dẫn dắt chuỗi cung ứng, chuyển đổi hệ thống.
Trong bối cảnh trên, ngành nông nghiệp còn đối mặt với ‘biến số’ biến đổi khí hậu. Theo đó, Việt Nam nằm trong nhóm 5 quốc gia chịu rủi ro khí hậu cao nhất toàn cầu.
Chẳng hạn, bão Yagi đã gây thiệt hại nông nghiệp khoảng 31.800 tỉ đồng trong năm 2024. Còn Đồng bằng sông Cửu Long - vùng sản xuất 50% sản lượng lúa gạo và 95% gạo xuất khẩu - đang đối mặt với xâm nhập mặn gây ảnh hưởng 1,3-1,7 triệu ha lúa.
- Trước những khó khăn vừa nêu, cần làm gì để thu hút sự quan tâm và nguồn lực khu vực ngoài Nhà nước cho nông nghiệp xanh?
Tập trung nguồn vốn đầu tư công để phát triển bài bản vào một số lĩnh vực, ngành hàng quan trọng, hướng tới xây dựng được hệ sinh thái, không gian phát triển cho các ngành chủ lực, phát triển hạ tầng, dịch vụ logistics… Lựa chọn này và việc đổi mới môi trường kinh doanh chính là nền tảng kích hoạt và dẫn dắt đầu tư tư nhân vào nông nghiệp xanh.
Theo đó, cần tăng đầu tư cho nghiên cứu khoa học, khoa học dữ liệu, chuyển đổi số nhằm hỗ trợ tốt cho phát triển nông nghiệp. Việc đầu tư cần tập trung vào những khu vực, loại hình công nghệ cốt lõi, quan trọng để thúc đẩy chuyển đổi toàn hệ thống.
Với khu vực tư nhân, cần có chính sách hỗ trợ và thúc đẩy đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư để huy động nguồn lực cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.
Bên cạnh đó, còn nhiều công cụ chính sách khác có thể áp dụng để phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn và bền vững như tín chỉ đa dạng sinh học, khu bảo tồn mở (OECM), tín dụng xanh… Nhưng để đạt được hiệu quả, cần hỗ trợ mở rộng, phát triển thị trường sản phẩm, dịch vụ đầu ra cho các mô hình nông nghiệp xanh.
Với người nông dân, có thể nâng cao kiến thức, kỹ năng cho họ qua các chương trình khuyến nông, khuyến lâm, tập huấn và thí điểm, nhân rộng tại các vùng, địa phương.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Vân Phong
1 ngày trước
6 ngày trước
7 ngày trước
10 ngày trước
12 ngày trước
15 ngày trước
4 giờ trước
2 giờ trước
36 phút trước
3 phút trước
3 phút trước
13 phút trước
16 phút trước
16 phút trước
20 phút trước
21 phút trước
21 phút trước
24 phút trước
30 phút trước
31 phút trước