🔍
Chuyên mục: Nghệ thuật

'Những năm tháng và sắc màu hoài niệm' trong tranh Nguyễn Phan

6 giờ trước
Triển lãm 'Họa sĩ Nguyễn Phan- Những năm tháng và sắc màu hoài niệm' sẽ được tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật Đà Nẵng từ ngày 9-16.5 và Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 24-31.5, giới thiệu đến công chúng hơn 30 tác phẩm tranh sơn dầu tiêu biểu của cố họa sĩ Nguyễn Phan.

Triển lãm mang tính hồi cố, tưởng niệm và tri ân, do KTS Phan Trường Sơn (con trai cố họa sĩ Nguyễn Phan) và gia đình thực hiện; trưng bày hơn 30 tác phẩm hội họa tiêu biểu của họa sĩ. Đồng thời cũng giới thiệu đến những người yêu mến mỹ thuật tập sách “Họa sĩ Nguyễn Phan, những năm tháng và sắc màu hoài niệm”.

Tranh sơn dầu “Địa đàng 1- 2008” của cố họa sĩ Nguyễn Phan

Họa sĩ Nguyễn Phan (1940–2010), tên thật Phan Ngọc Nam, tốt nghiệp khóa 2 trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1962 - một môi trường đào tạo hàn lâm, chịu ảnh hưởng sâu đậm của mỹ thuật Pháp, nhưng đồng thời vẫn nuôi dưỡng tinh thần thẩm mỹ Á Đông.

Giai đoạn 1966-1975, ông giữ cương vị Hiệu trưởng Trường Mỹ nghệ thực hành Huế, tham gia giảng dạy tại các trường Trung học tại Quảng Trị, Đà Nẵng.

Đầu thập niên 1960, Nguyễn Phan nổi lên như một gương mặt nổi bật của thế hệ họa sĩ trẻ miền Trung. Kỹ thuật sơn dầu phương Tây giúp ông xây dựng cấu trúc hình thế chắc chắn còn tư duy phương Đông lại mang đến một nhịp điệu tĩnh tại trong bố cục. Người xem có thế cảm nhận trong tranh ông một sự tiết chế đặc biệt, hình ảnh không phô trương, màu sắc không ồn ào, nhưng luôn giữ được một độ sâu cảm xúc.

Năm 1965, ông nhận Huy chương Bạc tại Triển lãm quốc tế ở Rome với tác phẩm Trăng thanh bình. Đây là một mốc son trong bước đầu sự nghiệp sáng tác của ông, đồng thời cũng tạo nên một hiệu ứng tích cực trong giới nghệ thuật lúc bấy giờ.

Nhà sưu tập Gérard Chapuis nhận xét: "Ở độ tuổi 25, họa sĩ Nguyễn Phan là một trong số ít tác giả Việt Nam đoạt giải Huy chương Bạc tại Triển lãm Quốc tế Roma (Prix de Rome) với tác phẩm “Trăng Thanh bình”. Sự kiện đã góp phần khẳng định vị trí của ông trong làng Mỹ thuật đương đại Việt Nam trước năm 1975, bên cạnh những tên tuổi như Vĩnh Phối, Đinh Cường, Tôn Thất Văn, Nguyễn Trung, Lâm Triết, Trịnh Cung, Hồ Hữu Thủ...."

Tranh sơn dầu “Điệu nhảy của Ngư dân và Cá – 2008”

Thế giới hội họa của Nguyễn Phan có những đặc trưng: Bố cục đơn giản mà chặt chẽ, đối kháng trong thể tài nhưng thuần nhất ở cá tính; đầy ngôn ngữ trừu tượng, tuy mang phong cách cổ điển nhưng thủ pháp thể hiện mới mẻ, sâu lắng, trữ tình. Họa sĩ Nguyễn Phan luôn trăn trở sáng tạo, bứt phá, cố vượt chính mình để vươn tới cái mới trong lặng lẽ và khiêm tốn hằng có nơi ông.

Theo cố họa sĩ Nguyễn Phan: "Nghệ thuật hiện hữu trong những điều chân thật, giả dối, những mâu thuẫn dằn vặt, những âu lo mất niềm tin cùng với nỗi cô đơn bất tận trong cuộc đời này. Tác phẩm là tình yêu chân thật và thiết tha, tất cả rồi cũng hư vô... như ánh sáng và bóng tối của mặt trời. Trong ký ức chỉ còn lại một chút gì để nhớ, hoặc để quên".

Chủ đề trong tranh của ông đa dạng, bao gồm nhiều thể loại; từ cảnh quan đời thường như “Một mình thuyền – 1990”, “Vẻ đẹp Cố Đô Huế - 1991”, “Dấu chân em - 1991”, “Thiếu nữ và hoa xương rồng - 1992”, “Đêm trong phố cảng – 2004”, “Điệu nhảy của Ngư dân và Cá – 2008”; đến những chiêm nghiệm nhân sinh như “Vô thức xanh – 1992”, “Cát bụi – 1992”, “Thời gian – 1993”, “Hữu tính và vô tính – 1999”, “Thức tỉnh – 2002”, “Tiến thoái lưỡng nan – 2005”, “Cuộc sống công nghệ ngày nay và Thiên nhiên – 2006”, “Địa đàng 1&2 – 2008.

Tranh sơn dầu “Địa đàng 2- 2008”

Lúc sinh thời, họa sĩ Nguyễn Phan có tuyên ngôn nghệ thuật: "Thật là bất hạnh khi phải ràng buộc, gò ép vào với chất liệu và hình thức diễn đạt, kể cả điều mê tín nhằm tạo cho mình một phong cách riêng. Phong cách thì cứ nên để cho nó đến như một sự phiêu bồng từ cái không mà có. Nếu lệ thuộc vào những điều trên, chúng ta sẽ bị xô đẩy vào tập quán, mà tập quán là thủ công, và thủ công là lập đi lập lại, là khuôn mẫu không còn tính Nghệ thuật."

Theo cố họa sĩ, nghệ thuật nếu bị đặt trong những giới hạn cứng nhắc sẽ khó khơi gợi cảm hứng sáng tạo, thậm chí có thể làm xói mòn, đi tới hủy diệt tinh thần nghệ sĩ.

Ông quan niệm, không gian của nghệ thuật là một cõi mênh mông của sắc màu, nơi ánh sáng và bóng tối giao hòa; là cội nguồn thiên nhiên của vũ trụ, đồng thời ẩn hiện bóng dáng một đời người ngắn ngủi nhưng luôn vận động, biến chuyển đầy sinh động. Tất cả hợp thành môi trường và chất liệu sống của nghệ thuật.

Chính từ đó, ông tìm thấy niềm say mê vẽ tranh, theo đuổi sáng tạo bằng tất cả đam mê của người nghệ sĩ.

Nhận xét hội họa của Nguyễn Phan, nhà văn Cung Tích Biền viết: “…Nguyễn Phan đã phần nào thành công trong nghề và trong cuộc chơi hội họa. Nhưng, một chiều hôm anh cũng trực ngộ, rằng Danh vị có điểm chết của nó khi nghệ thuật được đóng khung,...; Nguyễn Phan ý thức điều này, nên trong nồng nhiệt sáng tạo, anh luôn trăn trở, bứt phá, cố vượt chính mình để vươn tới cái mới, trong lặng lẽ và khiêm tốn hằng có nơi anh”. (Trích trong Tạp chí Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, số 6/1992).

Bên cạnh hội họa, ông còn tham gia thiết kế quy hoạch kiến trúc, tham gia nhiều công trình văn hóa, tiêu biểu như Khu tưởng niệm tượng đài Vĩnh Trinh

Sau năm 1975, hoạt động nghệ thuật của Nguyễn Phan đã có thêm hướng rẽ khác. Bên cạnh hội họa, ông còn tham gia thiết kế quy hoạch kiến trúc, trang trí nội ngoại thất, điêu khắc; tiêu biểu là quy hoạch ý tưởng tổng quan Công viên 29 tháng 3, thiết kế Nhà khách Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng, tham gia nhiều công trình văn hóa như nhà Tưởng niệm Chí sĩ Phan Châu Trinh, nhà Lưu niệm Chợ Được và thực hiện một số tượng đài tại Quảng Nam – Đà Nẵng như Tượng đài Vĩnh Trinh, Đài tưởng niệm Cây Cốc,... ở thập niên 80.

Vào thời điểm đó, hiếm khi có một họa sĩ nào thực hiện hoàn chỉnh một tác phẩm nghệ thuật điêu khắc – kiến trúc từ ý tưởng quy hoạch cho đến tạo hình như ông.

Trước khi qua đời vào năm 2010, năm 2009, Họa sĩ Nguyễn Phan đã hoàn tất tác phẩm liên hoàn “Những đóa hoa từ phế liệu” gồm hai bức tranh có tổng diện tích hơn 30m², tận dụng các vỏ, nắp và chai nhựa đã qua sử dụng, truyền tải thông điệp “Chung tay gìn giữ Sài Gòn – xanh, sạch và đẹp”, tác phẩm này đạt kỷ lục Guinness Quốc gia năm 2009.

Họa sĩ Thân Trọng Dũng cho rằng, ngoài các tượng đài, những đóng góp của họa sĩ Nguyễn Phan đối với hoạt động mỹ thuật Đà Nẵng là vô cùng đáng trân trọng, cần có những ghi nhận và tôn vinh chính đáng hơn nữa vai trò, vị trí của ông, nhất là có kế hoạch sưu tập, bảo tồn tác phẩm của ông đễ lưu giữ cho thế hệ mai sau.

Theo họa sĩ Phan Trọng Văn, trong dòng chảy nghệ thuật nói chung và mỹ thuật nói riêng ở miền Trung thế kỷ XX, họa sĩ Nguyễn Phan hiện thân như một sự giao thoa giữa tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn và tư duy quy hoạch không gian đô thị đầy lý tính.

Các công trình của Nguyễn Phan đã cho thấy một sự giao thoa trọn vẹn, hài hòa giữa lãng mạn và lý tính như một kiến trúc sư giỏi có tâm hồn của một họa sĩ, và như một nghệ sĩ lớn có tầm nhìn đa diện.

Theo nghĩa nào đó, Nguyễn Phan đúng là “kẻ lữ hành đầy sáng tạo”, như điêu khắc gia Trương Đình Quế đã từng nhận xét. Hành trình của ông là lời nhắc nhở cho những người làm nghề kiến trúc và nghệ thuật hôm nay: Rằng giữa những bộn bề của cuộc sống, cái cốt lõi cuối cùng vẫn là sự thấu cảm nhân văn và tình yêu cháy bỏng với những giá trị thẩm mỹ trường tồn.

K.CHI















Home Icon VỀ TRANG CHỦ