🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Nhôm thỏi chưa phải là đích đến - Bài 1

1 giờ trước
Khép kín chuỗi bô xít – alumin – nhôm mới chỉ là nửa chặng đường, nửa còn lại là xây dựng hệ sinh thái chế biến sâu để mỗi tấn nhôm tạo ra giá trị cao hơn.

CHUỖI NHÔM KHÉP KÍN: MỞ BÀI TOÁN CẠNH TRANH

Việt Nam lần đầu sản xuất thành công nhôm thỏi, khép lại hơn một thập kỷ đầu tư hoàn thiện chuỗi bô xít - alumin - nhôm kim loại. Tuy nhiên, cột mốc này mới đánh dấu sự hoàn thiện của chuỗi sản xuất, chưa phải đích đến của ngành công nghiệp nhôm. Tương lai của ngành sẽ không được quyết định ở điện phân, mà ở khả năng phát triển chế biến sâu, bảo đảm nguồn điện và đáp ứng các tiêu chuẩn carbon.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Phan Văn Giang cùng các đại biểu tham quan dây chuyền sản xuất tại Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông, dự án luyện nhôm kim loại đầu tiên của Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Huy Thành – TTXVN

BÀI 1: Nhôm thỏi chưa phải là đích đến

Khép kín chuỗi Bô xít – Alumin – Nhôm kim loại sau hơn một thập kỷ đầu tư kiên trì là một cột mốc lịch sử của công nghiệp vật liệu Việt Nam. Tuy nhiên, nhôm thỏi mới chỉ là nửa chặng đường. Đích đến thực sự và phần giá trị kinh tế lớn nhất nằm ở hệ sinh thái chế biến sâu phía sau, khi mỗi tấn nhôm được chuyển hóa thành hợp kim, linh kiện công nghệ cao và sản phẩm chế tạo có giá trị gia tăng gấp nhiều lần.

Việt Nam lần đầu sản xuất thành công nhôm thỏi, khép lại hơn một thập kỷ đầu tư hoàn thiện chuỗi bô xít - alumin - nhôm kim loại. Tuy nhiên, cột mốc này mới đánh dấu sự hoàn thiện của chuỗi sản xuất, chưa phải đích đến của ngành công nghiệp nhôm.

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Môi trường, PGS.TS Lưu Đức Hải, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, nhận định nhôm thỏi chỉ mở đầu chuỗi giá trị. Giá trị lớn nhất của ngành sẽ được tạo ra ở khâu chế biến sâu và hệ sinh thái doanh nghiệp sử dụng nhôm.

PGS.TS Lưu Đức Hải nhận định: Giá trị kinh tế lớn nhất của việc sản xuất thành công nhôm thỏi là tạo tiền đề hình thành một ngành công nghiệp nhôm hoàn chỉnh. Ảnh: KTMT

Việt Nam đã hoàn thiện chuỗi bô xít - alumin - nhôm kim loại sau hơn một thập kỷ đầu tư. Theo ông, cột mốc này có ý nghĩa như thế nào đối với quá trình công nghiệp hóa?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Đây là bước tiến quan trọng của công nghiệp vật liệu Việt Nam. Làm chủ khâu điện phân đồng nghĩa với việc Việt Nam tiến thêm một nấc trong chuỗi giá trị công nghiệp, thay vì dừng ở khai thác tài nguyên và sản xuất nguyên liệu.

Trước hết, Việt Nam đã hoàn thiện mắt xích từ bô xít đến nhôm kim loại, tạo nền tảng khai thác hiệu quả hơn nguồn tài nguyên trong nước. Đây là tiền đề để phát triển ngành công nghiệp nhôm theo chuỗi, thay vì tập trung vào các khâu có giá trị gia tăng thấp.

Nguồn cung nhôm trong nước cũng sẽ góp phần thay thế khoảng 1,4 triệu tấn nhôm nhập khẩu mỗi năm. Xa hơn, chủ động được nhôm kim loại sẽ nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và tăng cường tiềm lực quốc phòng trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt.

Nhiều ý kiến cho rằng điện phân nhôm đã khép kín chuỗi bô xít - alumin - nhôm. Theo ông, giá trị kinh tế lớn nhất của cột mốc này nằm ở đâu?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Giá trị lớn nhất không nằm ở việc sản xuất được nhôm thỏi, mà ở việc lần đầu hình thành chuỗi sản xuất hoàn chỉnh. Đây là nền tảng để phát triển một ngành công nghiệp nhôm, thay vì chỉ khai thác tài nguyên bô xít và sản xuất nguyên liệu nhôm.

Trước mắt, nguồn nhôm trong nước sẽ giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và tạo đầu vào ổn định cho các doanh nghiệp cán, ép đùn, sản xuất hợp kim và chế tạo sản phẩm nhôm. Điều đó mở rộng không gian phát triển của ngành chế biến và tạo thêm giá trị cho nền kinh tế.

Về dài hạn, phần giá trị lớn nhất không nằm ở khâu điện phân mà ở chuỗi chế biến phía sau nhôm thỏi. Chính các ngành sản xuất hợp kim, vật liệu và sản phẩm công nghiệp mới quyết định hiệu quả lớn nhất của việc khai thác tài nguyên bô xít và giá trị gia tăng của ngành nhôm.

Ở góc độ kinh tế tài nguyên, sản xuất nhôm thỏi đã thay đổi giá trị của tài nguyên bô xít như thế nào?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Giá trị của tài nguyên được tạo ra qua từng công đoạn chế biến. Cùng một nguồn bô xít, mỗi bước đi sâu hơn trong chuỗi sản xuất đều làm gia tăng giá trị.

Quặng tinh bô xít trên thị trường quốc tế hiện có giá khoảng 60-90 USD mỗi tấn. Sau khi chế biến thành alumin, giá tăng lên khoảng 400-500 USD mỗi tấn. Với nhôm nguyên sinh, mức giá dao động khoảng 3.000-3.500 USD mỗi tấn. Chênh lệch đó phản ánh rõ giá trị gia tăng được tạo ra từ quá trình chế biến.

Tuy nhiên, điện phân là ngành tiêu thụ rất nhiều điện nên hiệu quả đầu tư phụ thuộc trực tiếp vào giá điện, nguồn điện và chi phí thuế carbon. Trong giai đoạn hiện nay, ưu tiên đáp ứng nhu cầu trong nước sẽ hiệu quả hơn là mở rộng xuất khẩu. Khi hướng ra thị trường quốc tế, các dự án phải tính đến CBAM và các tiêu chuẩn về nhôm phát thải thấp.

Cùng một nguồn tài nguyên nhưng khi nhôm được chế biến sâu hơn sẽ tạo ra giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều. Ảnh Stavian

Có thể xem nhôm thỏi là điểm khởi đầu để Việt Nam hình thành một ngành công nghiệp vật liệu chiến lược?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Hoàn toàn có thể. Với nhiều quốc gia công nghiệp, nhôm không đơn thuần là một kim loại mà là vật liệu nền của các ngành chế tạo.

Nhu cầu nhôm của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng cùng quá trình công nghiệp hóa. Chủ động nguồn cung trong nước sẽ tạo nền tảng phát triển các ngành cơ khí chế tạo, điện - điện tử, giao thông, năng lượng và quốc phòng, đồng thời giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.

Quan trọng hơn, khi gắn với công nghiệp chế biến sâu, nhôm có thể trở thành một trong những vật liệu chiến lược, góp phần nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của công nghiệp Việt Nam.

Khi chủ động được nguồn nhôm kim loại, những ngành nào sẽ hưởng lợi đầu tiên và cũng hưởng lợi lớn nhất?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Trước hết là các ngành sử dụng nhiều nhôm như xây dựng, cơ khí chế tạo, điện - điện tử, giao thông, năng lượng và quốc phòng. Đây đều là những lĩnh vực có nhu cầu lớn, đồng thời giữ vai trò quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa.

Chủ động nguồn nguyên liệu sẽ giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, nâng tỷ lệ nội địa hóa và ổn định chuỗi cung ứng. Quan trọng hơn, nguồn cung trong nước tạo điều kiện để các ngành chế tạo phát triển các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao hơn.

Thành công của ngành nhôm nên được đo bằng sản lượng nhôm thỏi hay quy mô của ngành chế biến sau luyện nhôm?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Thước đo của ngành không phải là sản lượng nhôm thỏi, mà là giá trị tạo ra sau khi luyện nhôm.

Một tấn nhôm đưa vào sản xuất hợp kim, linh kiện, vật liệu hay các sản phẩm cơ khí luôn tạo ra giá trị cao hơn nhiều so với bán dưới dạng nguyên liệu nhôm. Sau khi làm chủ khâu điện phân, ưu tiên tiếp theo phải là phát triển các doanh nghiệp cán, ép đùn, sản xuất hợp kim và chế tạo sản phẩm nhôm.

Khi hệ sinh thái chế biến sâu được hình thành, phần giá trị gia tăng sẽ được giữ lại trong nước, thay vì dừng ở khâu sản xuất nhôm kim loại.

Từ bô xít, alumin đến nhôm thỏi và sản phẩm chế tạo, mỗi công đoạn đều tạo ra giá trị khác nhau. Việt Nam nên định vị mình ở đâu trong chuỗi giá trị này?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Việt Nam cần phát triển theo một lộ trình phù hợp với khả năng cung ứng năng lượng và nhu cầu của thị trường.

Trước mắt, ưu tiên vẫn là đáp ứng nhu cầu nhôm trong nước, đồng thời duy trì xuất khẩu alumin để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên. Khi nguồn điện, đặc biệt là điện tái tạo, đủ lớn và ổn định hơn, Việt Nam mới có điều kiện mở rộng điện phân và từng bước nâng vị thế trong chuỗi giá trị nhôm toàn cầu.

Nếu dừng ở nhôm thỏi, Việt Nam sẽ bỏ lỡ điều gì, thưa ông?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Chúng ta sẽ bỏ lỡ phần giá trị lớn nhất của chuỗi sản xuất.

Một tấn nhôm đưa vào sản xuất hợp kim, linh kiện hay các sản phẩm cơ khí luôn tạo ra giá trị cao hơn nhiều so với xuất khẩu dưới dạng nhôm thỏi. Trong khi đó, mở rộng điện phân vượt quá nhu cầu trong nước sẽ làm gia tăng áp lực về điện năng và chi phí thuế carbon.

Phần giá trị lớn nhất luôn nằm sau nhôm thỏi. Đó cũng là hướng đi giúp ngành nhôm tạo giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững.

Vậy đích đến của ngành nhôm Việt Nam nên là gì?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Đích đến không phải là xuất khẩu thật nhiều nhôm thỏi.

Việt Nam cần một chiến lược phát triển đồng bộ chuỗi bô xít - alumin - nhôm theo từng giai đoạn, phù hợp với khả năng cung ứng điện và nhu cầu của thị trường. Chỉ khi sản xuất, chế biến và tiêu thụ phát triển đồng bộ, ngành nhôm mới tạo được nền tảng tăng trưởng dài hạn.

Đến lúc đó, thành công của ngành sẽ được đo bằng giá trị gia tăng tạo ra từ hợp kim, vật liệu mới và các sản phẩm công nghiệp sử dụng nhôm, thay vì chỉ bằng sản lượng nhôm thỏi.

Điều đó cũng đồng nghĩa với việc ưu tiên hiện nay chưa phải là đẩy mạnh xuất khẩu nhôm thỏi?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Đúng vậy. Trong giai đoạn hiện nay, ưu tiên hợp lý nhất vẫn là đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước.

Mỗi năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng 1,4 triệu tấn nhôm phục vụ sản xuất. Đây là thị trường đủ lớn để ngành nhôm phát triển trước khi tính đến việc mở rộng xuất khẩu.

Khi nhôm được đưa vào sản xuất hợp kim, cơ khí, vật liệu xây dựng, điện - điện tử hay quốc phòng, giá trị tạo ra sẽ cao hơn nhiều so với xuất khẩu dưới dạng nhôm thỏi. Cách tiếp cận này cũng giúp giảm rủi ro trước biến động giá quốc tế và các hàng rào thương mại mới.

Sau cột mốc này, ông kỳ vọng điều gì ở ngành nhôm Việt Nam?

PGS.TS Lưu Đức Hải: Tôi kỳ vọng đây sẽ là điểm khởi đầu của một chiến lược phát triển ngành nhôm dài hạn, chứ không chỉ là thành công của một dự án điện phân.

Việt Nam có lợi thế về tài nguyên bô xít và thị trường trong nước. Điều còn thiếu là một chiến lược phát triển đồng bộ từ năng lượng, điện phân đến chế biến sâu và các ngành sử dụng nhôm.

Khi mỗi tấn nhôm tạo ra nhiều sản phẩm công nghiệp hơn, lúc đó ngành nhôm mới thực sự trở thành một ngành công nghiệp vật liệu có sức cạnh tranh. Thành công sẽ không được đo bằng sản lượng nhôm thỏi, mà bằng giá trị gia tăng giữ lại cho nền kinh tế.

Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Lưu Đức Hải đã có những thông điệp rất rõ ràng sau khi 1 doanh nghiệp Việt Nam sản xuất được nhôm thỏi.

Thành công của ngành nhôm Việt Nam phải được đo bằng giá trị gia tăng giữ lại cho nền kinh tế từ hợp kim, vật liệu mới và các sản phẩm công nghiệp chế tạo, thay vì chỉ đo bằng sản lượng nhôm thỏi đơn thuần. Đã đến lúc chúng ta cần một Chiến lược phát triển ngành nhôm toàn diện, đồng bộ từ quy hoạch năng lượng, công nghệ điện phân đến chính sách thu hút đầu tư chế biến sâu.

Hải Vân (Thực hiện)

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ