'Ngọn đuốc' tiếp lửa cho người cầm bút

Nhà văn Niê Thanh Mai
Xung quanh ý nghĩa của Nghị định mang tính bước ngoặt này - cũng như những tác động dự kiến đối với đời sống văn học và đội ngũ sáng tác, Văn Hóa đã có cuộc trò chuyện với nhà văn Niê Thanh Mai, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đắk Lắk.
P.V: Thưa bà, Nghị định 350 về khuyến khích phát triển văn học lần đầu tiên được ban hành mang đến cho bà - một người cầm bút - những suy nghĩ gì?
- Nhà văn Niê Thanh Mai: Điều đầu tiên tôi cảm nhận được khi tiếp cận Nghị định 350 (sau đây gọi tắt là Nghị định) là một sự trăn trở rất lớn, không chỉ với tư cách người làm công tác văn học nghệ thuật mà trước hết là với tư cách một người cầm bút. Tôi tự hỏi bản thân mình, và cũng đặt câu hỏi với các đồng nghiệp: Trong 5 năm, 10 năm qua, thậm chí là 20 năm qua, chúng ta đã thực sự làm được gì cho văn học, cho chính con đường sáng tác của mình?
Thực tế phải nhìn nhận rằng, khoảng 20 năm gần đây, chúng ta chưa có nhiều tác phẩm đỉnh cao, thiếu những sáng tác dài hơi, phần lớn vẫn mang tính manh mún, dấu ấn cá nhân rất rõ. Khi đặt tác phẩm của thế hệ hôm nay bên cạnh sáng tác của lớp nhà văn gạo cội, có một khoảng cách khiến người làm nghề không thể không suy nghĩ. Và tôi cho rằng, không ít nhà văn, người cầm bút đã và đang đau đáu với câu hỏi lớn: Tại sao ngày hôm nay chúng ta không có tác phẩm đỉnh cao?
Từ góc độ người đứng đầu một Hội văn học nghệ thuật địa phương, bà nhìn nhận trách nhiệm của mình ra sao để Nghị định đi vào cuộc sống?
- Với cương vị là người lãnh đạo hội ở địa phương, tôi cho rằng Nghị định buộc chúng tôi phải thay đổi cách nghĩ, cách làm. Không thể chỉ dừng ở việc tạo điều kiện để văn nghệ sĩ có thời gian, kinh phí hay không gian sáng tác, mà quan trọng hơn là phải giúp người viết nhìn lại phương pháp nghiên cứu, cách đặt vấn đề và ý thức rõ hơn về chức năng của văn học.
Văn học nghệ thuật, đặc biệt là tác phẩm văn học, không đơn thuần là tiếng nói cá nhân của người cầm bút, mà phải có khả năng hữu ích cho một thế hệ, một lĩnh vực hay một vùng đất cụ thể. Đó mới là giá trị và chức năng sâu xa của văn học.
Theo bà, đâu là những yêu cầu cấp thiết đặt ra cho văn học hiện nay, nhất là với những mảng đề tài như thiếu nhi, phụ nữ hay các nhóm xã hội đặc thù?
- Tôi thấy hiện nay khi viết cho thiếu nhi, phụ nữ hay cho những tầng lớp xã hội khác, đôi khi người lớn chúng ta viết trong trạng thái “gồng mình”. Chúng ta thiếu thời gian để đi sâu để thấu hiểu thực sự đối tượng mà mình hướng đến. Chính vì vậy, Nghị định đòi hỏi phải có một chiến lược dài hơi, từ đào tạo, bồi dưỡng đến môi trường sáng tác. Song song với đó, cần đặt ra những mục tiêu rõ ràng và mở ra nhiều cơ hội để người viết phát huy tốt nhất năng lực của mình, thông qua các cuộc thi, trại sáng tác, liên hoan hay những hoạt động trao đổi chuyên môn thực chất. Hoạt động chuyên môn đối với văn học cần được tổ chức nhiều hơn, bài bản hơn...

Văn học sẽ có thêm động lực, thêm sức sống và người cầm bút sẽ gắn bó bền bỉ hơn với nghề
Bà đã nhiều lần nhấn mạnh vai trò của văn học dân gian trong phát triển văn học địa phương, điều này được thể hiện như thế nào tại Đắk Lắk?
- Theo tôi, văn học ở một vùng đất có phát triển được hay không phụ thuộc rất nhiều vào nền tảng văn học, văn nghệ dân gian của chính địa phương đó. Khi người viết có kiến thức và sự am hiểu về văn hóa dân gian, họ sẽ có một nền tảng tốt để sáng tác những tác phẩm có chiều sâu.
Chúng tôi nhìn thẳng vào sự thật rằng, sự phát triển của văn học nghệ thuật của Đắk Lắk nói riêng, vùng Tây Nguyên nói chung vẫn còn chưa mạnh. Chưa có tác phẩm xuất sắc, chưa có tác giả nổi bật. Tiếng nói về văn hóa và vùng đất Tây Nguyên chưa thu hút các văn nghệ sĩ dốc hết tâm sức để làm bật lên nét đẹp ấy trên diễn đàn văn học nước nhà. Tuy nhiên, tại Đắk Lắk, chúng tôi đang cố gắng đưa các hoạt động văn nghệ dân gian vào đời sống văn học nghệ thuật, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học. Chính sự kết nối này mới tạo hy vọng về những tác phẩm gắn với vùng đất, mang bản sắc riêng, đồng thời phản ánh được hơi thở của thời đại.
Vì sao bà ví Nghị định này như một “ngọn đuốc” và bà kỳ vọng gì vào những tác động dài hạn của Nghị định đối với đời sống văn học?
- Tôi cho rằng Nghị định này thực sự là một ngọn đuốc - ngọn đuốc để tất cả những người cầm bút chúng tôi cùng hướng về. Nó vừa là ánh sáng định hướng, vừa là ngọn lửa ấm, và hơn hết là niềm tin.
Trước đây, nhiều người cầm bút viết chủ yếu bằng đam mê và tài năng, nhưng động lực đôi khi chưa đủ mạnh. Khi có Nghị định, có các chương trình phát triển văn học, có sân chơi và không gian rộng mở hơn, người viết sẽ có thêm động lực để bày tỏ và khẳng định tài năng của mình. Những tác phẩm văn học có giá trị, khi được hỗ trợ và kết nối tốt, hoàn toàn có thể phát triển thành phim, thành kịch bản sân khấu, tạo nên một chuỗi giá trị sáng tạo. Điều này giúp người cầm bút nhìn thấy con đường phát triển lâu dài của tác phẩm và của chính mình.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng mở ra cơ hội để Trung ương và các địa phương có những cơ chế hỗ trợ cụ thể hơn: Từ cấp kinh phí, tổ chức các cuộc thi, trại sáng tác đến xây dựng sân chơi chuyên nghiệp. Tôi tin rằng, với những điều kiện đó, văn học sẽ có thêm động lực, thêm sức sống và người cầm bút sẽ gắn bó bền bỉ hơn với nghề.
Nghị định về khuyến khích phát triển văn học đã xác định rõ những nhóm đề tài cần được ưu tiên, trong đó có văn hóa các dân tộc thiểu số, người yếu thế, thanh thiếu niên và nhi đồng... Trong các tác phẩm của bà, có thể thấy xuyên suốt một nỗi đau đáu với bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Bà có cho rằng Nghị định sẽ tạo thêm động lực và điều kiện để những mạch sáng tác như vậy được tiếp tục nuôi dưỡng và lan tỏa sâu rộng hơn? Đồng thời, trước quan niệm cho rằng Niê Thanh Mai viết để “trả nợ” buôn làng, bà nhìn nhận cách gọi này như thế nào?
- Thực ra, điều đó không chỉ có ở riêng tôi, mà là cảm xúc chung của tất cả những ai từng sống và gắn bó với Tây Nguyên. Không biết có phải vì hình ảnh những người đàn ông trung niên da ngăm, nụ cười thuần hậu rất giống cha tôi, hay vì những ký ức không thể phai mờ về quê hương, mà mỗi khi đặt bút viết, tôi lại nghĩ đến vùng đất này.
Tôi có một tham vọng rất lớn, dù nghe có vẻ giản dị: Đó là bất cứ ai đọc truyện của tôi cũng đều muốn đến với Tây Nguyên, để nhìn, để cảm, để hiểu và để yêu mảnh đất này như tôi đã và đang yêu.
Có một bài báo từng viết rằng tôi sáng tác để “trả nợ” buôn làng. Thực ra, tôi không thích cụm từ đó. “Trả nợ” thường gợi đến nghĩa vụ, đến sự miễn cưỡng khi buộc phải làm. Còn với tôi, việc viết xuất phát từ tình yêu tha thiết với quê hương, với vùng đất nơi tôi sinh ra và lớn lên. Đó là sự tự nguyện, là niềm hạnh phúc khi được tắm mình trong những điều đẹp đẽ, rất đỗi bình dị của Tây Nguyên.
Sau một quãng thời gian rất dài bị cuốn vào những bộn bề công việc, lo toan cho cuộc sống và gia đình, tôi đã không thể viết một cách trọn vẹn. Bây giờ, dù những vất vả, sóng gió của đời sống vẫn còn đó, tôi tìm được cho mình một điểm tựa tinh thần rất lớn - đó là được tiếp tục viết, được trải lòng mình trên trang giấy. Với tôi, hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản như thế mà thôi.
Xin cảm ơn nhà văn Niê Thanh Mai!
THẢO NGUYÊN (thực hiện)
8 giờ trước
2 ngày trước
3 ngày trước
4 ngày trước
8 ngày trước
10 ngày trước
13 ngày trước
14 ngày trước
15 ngày trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
43 phút trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
4 giờ trước
4 giờ trước