🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Ngoại giao khoa học, công nghệ: Từ kết nối nguồn lực đến kiến tạo năng lực phát triển quốc gia

1 giờ trước
Ngoại giao khoa học, công nghệ không chỉ kết nối, mà phải kiến tạo năng lực phát triển nội sinh, giúp Việt Nam làm chủ công nghệ, nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI.

Cạnh tranh công nghệ toàn cầu đang diễn ra ngày càng quyết liệt, khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng kinh tế, năng lực cạnh tranh và sức mạnh quốc gia.

Các nước siết chặt kiểm soát công nghệ nguồn, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao. Tiếp cận công nghệ tiên tiến phụ thuộc vào độ tin cậy chính trị, chiều sâu quan hệ đối tác và năng lực tham gia mạng lưới hợp tác quốc tế. Trong bối cảnh đó, hợp tác quốc tế không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện để phát triển, giúp các quốc gia tiếp cận tri thức, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, nguồn vốn đầu tư và các chuẩn mực quản trị tiên tiến.

Với Việt Nam, yêu cầu đặt ra là phải chuyển hóa quan hệ đối ngoại thành các nguồn lực cụ thể: công nghệ, nhân lực, đầu tư R&D, doanh nghiệp công nghệ, sản phẩm mới và năng lực cạnh tranh. Ngoại giao khoa học, công nghệ không chỉ kết nối, mà phải kiến tạo năng lực phát triển nội sinh, giúp Việt Nam làm chủ công nghệ, nâng cao vị trí trong chuỗi giá trị và hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI.

Từ giải pháp ngành đến trụ cột đối ngoại

Tư duy về ngoại giao khoa học, công nghệ của Việt Nam được hình thành và nâng tầm qua ba Nghị quyết quan trọng và liên tiếp của Bộ Chính trị.

Ngày 22/12/2024, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt nền móng. Nghị quyết xác định hợp tác quốc tế là một trong bảy nhóm giải pháp lớn, ngang hàng với thể chế, hạ tầng, nhân lực. Điều này khẳng định phát triển khoa học, công nghệ của Việt Nam không thể chỉ dựa vào nội lực.

Nghị quyết nhấn mạnh tăng cường hợp tác nghiên cứu, mua, chuyển giao và làm chủ công nghệ tiên tiến trong các lĩnh vực ưu tiên như trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng nguyên tử; đặt mục tiêu đến 2030 thu hút ít nhất ba tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đặt trụ sở tại Việt Nam.

Ngày 24/1/2025, Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới đánh dấu bước phát triển tư duy: lần đầu tiên, hội nhập quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là một nhóm giải pháp độc lập, ngang hàng với hội nhập kinh tế và hội nhập về chính trị, quốc phòng, an ninh.

Nghị quyết tiếp cận từ góc độ thể chế, xây dựng khuôn khổ hợp tác, đưa tiêu chuẩn trong nước tiệm cận thông lệ quốc tế, đồng thời bảo đảm nguyên tắc “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, giữ vững tự chủ chiến lược và kiểm soát rủi ro phụ thuộc công nghệ.

Ngày 19/5/2026, Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV xác định vai trò đột phá của “ngoại giao khoa học, công nghệ” phục vụ chuyển đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là lần đầu tiên khái niệm này được xác lập như một trụ cột riêng của nền đối ngoại Việt Nam, đánh dấu sự chuyển đổi tư duy đối ngoại mạnh mẽ, chuyển từ bảo vệ không gian phát triển sang chủ động kiến tạo năng lực, thị trường và luật chơi. Công tác đối ngoại được gắn liền với phát triển kinh tế, thu hút công nghệ cao và tăng cường thông tin đối ngoại, nâng cao sức mạnh mềm

Ba nghị quyết tạo thành mạch tư duy nhất quán: từ giải pháp chuyên ngành (Nghị quyết số 57-NQ/TW), thành trụ cột hội nhập quốc gia (Nghị quyết số 59-NQ/TW), đến hướng đột phá của toàn ngành đối ngoại (Nghị quyết số 06-NQ/TW). Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực phát triển; hội nhập quốc tế là không gian phát triển; ngoại giao khoa học, công nghệ là công cụ chuyển hóa tri thức và nguồn lực toàn cầu thành năng lực phát triển của Việt Nam.

Kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn triển khai tại Việt Nam

Thực tiễn quốc tế cho thấy, những quốc gia có năng lực đổi mới sáng tạo hàng đầu đều đồng thời là những quốc gia có mức độ hội nhập sâu vào hệ sinh thái khoa học và công nghệ toàn cầu. Theo Báo cáo định kỳ của OECD - Science, Technology and Innovation Outlook 2023, đổi mới sáng tạo ngày càng được hình thành thông qua các mạng lưới hợp tác xuyên biên giới giữa chính phủ, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học.

UNESCO trong Khuyến nghị Khoa học Mở năm 2021 (Recommendation on Open Science (2021)) cũng khẳng định, trước các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, y tế, an ninh lương thực hay trí tuệ nhân tạo, không một quốc gia nào có thể phát triển khoa học chỉ bằng nguồn lực của riêng mình, mà cần thúc đẩy chia sẻ tri thức, dữ liệu và hợp tác quốc tế.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hợp tác khoa học công nghệ được triển khai theo các phương thức đa dạng, từ hợp tác xây dựng khuôn khổ pháp lý, quản trị công nghệ đến tham gia định hình tiêu chuẩn quốc tế, thiết lập chương trình đồng tài trợ nghiên cứu chung, phát triển nguồn nhân lực qua học bổng và trao đổi học thuật, duy trì mạng lưới cán bộ khoa học công nghệ tại cơ quan đại diện ở nước ngoài, chủ động thu hút đầu tư công nghệ cao, kết nối hệ sinh thái khởi nghiệp với nhà đầu tư quốc tế, cũng như kết nối đại học, viện nghiên cứu nước ngoài với doanh nghiệp trong nước.

Nhiều mô hình trong số đó đã chứng minh hiệu quả như chương trình Horizon Europe của EU giai đoạn 2021–2027 đã tài trợ hơn 15.000 dự án hợp tác nghiên cứu cho các quốc gia thuộc EU và đối tác, trong đó có Việt Nam; các hoạt động đồng tài trợ nghiên cứu của Việt Nam và các nước đối tác đã hỗ trợ hơn 100 nhiệm vụ nghiên cứu giai đoạn 2015 – 2025.

Nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới đã mở rộng hiện diện nghiên cứu và phát triển (R&D) tại Việt Nam. NVIDIA cam kết đầu tư khoảng 4–4,5 tỷ USD trong giai đoạn 2025–2030; Qualcomm thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển AI lớn thứ ba toàn cầu của tập đoàn tại Hà Nội vào tháng 4/2025; trong khi Samsung đã đầu tư khoảng 220 triệu USD cho hoạt động R&D, sử dụng khoảng 2.500 kỹ sư Việt Nam và đạt doanh thu 64,9 tỷ USD trong năm 2025.

Viettel đã khởi công nhà máy chế tạo chip đầu tiên của Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc trên diện tích 27 ha. Dự án được triển khai với sự hợp tác của các đối tác công nghệ hàng đầu thế giới và dự kiến thử nghiệm dòng chip 32nm vào năm 2027.

Song song với đó, trong năm 2025, Việt Nam cũng từng bước hình thành và triển khai khuôn khổ hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo hướng bài bản, dài hạn, tạo nền tảng thu hút các tập đoàn công nghệ lớn và thúc đẩy phát triển các ngành công nghệ chiến lược.

Bộ Ngoại giao đã ban hành Kế hoạch triển khai công tác đối ngoại khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, đồng thời đang hoàn thiện Chiến lược hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trên nền tảng đó, các cơ chế hợp tác song phương tiếp tục được duy trì đều đặn và mở rộng. Tiêu biểu là Ủy ban hỗn hợp Việt Nam – Hàn Quốc về hợp tác khoa học và công nghệ đã tổ chức 10 kỳ họp; tại kỳ họp gần nhất, hai bên thống nhất Kế hoạch hành động giai đoạn 2026–2028, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như trí tuệ nhân tạo (AI), mạng 6G và công nghiệp bán dẫn. Cùng với đó, Hội nghị Bán dẫn Việt Nam – Nhật Bản lần đầu tiên được tổ chức tại Osaka với sự tham dự của gần 100 đại biểu, mở ra khuôn khổ hợp tác mới về nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển ngành bán dẫn giữa hai nước.

Trong quá trình đó, Ngành Ngoại giao, đặc biệt là mạng lưới gần 100 Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài (năm 2025 triển khai gần 500 hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch, kết nối ký khoảng 100 thỏa thuận hợp tác quốc tế), đã phát huy vai trò là "cánh tay nối dài" của đất nước trong kết nối các nguồn lực khoa học, công nghệ toàn cầu với nhu cầu phát triển trong nước.

Sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa Bộ Ngoại giao và Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đã góp phần nâng cao hiệu quả triển khai các cơ chế hợp tác song phương và đa phương; thúc đẩy ký kết và thực hiện nhiều chương trình hợp tác với các đối tác chiến lược;

Tăng cường phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Ngoại giao trong giai đoạn mới

Để ngoại giao khoa học, công nghệ trở thành công cụ trực tiếp phục vụ phát triển, đề xuất tăng cường phối hợp giữa Bộ Ngoại giao và Bộ Khoa học và Công nghệ theo năm nhóm nhiệm vụ sau.

Thứ nhất, hình thành mạng lưới ngoại giao khoa học, công nghệ chuyên sâu tại các địa bàn trọng điểm. Xác định các quốc gia, khu vực và trung tâm công nghệ có ý nghĩa chiến lược. Bố trí hoặc phân công đầu mối theo dõi khoa học, công nghệ tại cơ quan đại diện. Xây dựng mạng lưới cộng tác viên gồm chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài, nhà khoa học, doanh nghiệp, quỹ đầu tư, viện nghiên cứu và trường đại học.

Thứ hai, thiết lập cơ chế chuyển hóa cam kết đối ngoại thành chương trình và dự án cụ thể. Mỗi thỏa thuận hợp tác cấp cao cần có kế hoạch thực hiện với mục tiêu, đầu mối, nguồn lực, tiến độ và sản phẩm đầu ra rõ ràng. Cần cơ chế theo dõi chung, cập nhật định kỳ và tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, tài chính, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và tiêu chuẩn.

Thứ ba, xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung về đối tác, chuyên gia và cơ hội hợp tác quốc tế. Bộ Khoa học và Công nghệ xác định tiêu chí chuyên môn, nhu cầu công nghệ và danh mục nhiệm vụ. Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện cập nhật thông tin về đối tác, chuyên gia và cơ hội tại địa bàn. Dữ liệu phải được kiểm chứng, cập nhật thường xuyên và liên thông giữa các đơn vị.

Thứ tư, đưa Việt Nam tham gia sớm vào quá trình hình thành tiêu chuẩn và quy tắc quản trị công nghệ mới. Lựa chọn các diễn đàn, tổ chức và nhóm kỹ thuật quốc tế có ảnh hưởng trực tiếp. Cử cán bộ, chuyên gia tham gia thường xuyên; chuẩn bị đề xuất, sáng kiến cụ thể. Trọng tâm là các tiêu chuẩn về AI, dữ liệu, bán dẫn, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, công nghệ xanh.

Thứ năm, thể chế hóa, đánh giá và nhân rộng các mô hình hợp tác có hiệu quả. Tổng kết các mô hình thành công như ủy ban hỗn hợp có chương trình hành động cụ thể, hội nghị kết nối chuyên sâu, trung tâm R&D, chương trình đào tạo chung, quỹ đồng tài trợ. Hình thành bộ chỉ số đánh giá theo kết quả đầu ra: số dự án triển khai, giá trị đầu tư R&D, số công nghệ được chuyển giao hoặc làm chủ, số chuyên gia và nhân lực được đào tạo, số sản phẩm được thương mại hóa.

Đổi mới sáng tạo ngày càng mở và xuyên biên giới; lợi thế cạnh tranh nằm ở khả năng kết nối, hấp thụ và chuyển hóa nguồn lực toàn cầu thành năng lực trong nước.

Ngoại giao khoa học, công nghệ Việt Nam đang chuyển từ kết nối sang kiến tạo phát triển, từ ký kết sang tổ chức thực hiện, từ huy động nguồn lực bên ngoài sang hình thành năng lực nội sinh. Nền tảng đối ngoại rộng mở chỉ phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành công nghệ, nhân lực và năng lực cạnh tranh — với sự phối hợp rõ vai: ngành khoa học công nghệ xác định nhu cầu, tiêu chuẩn; ngành Ngoại giao mở đường, kết nối nguồn lực; doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học tiếp nhận và thương mại hóa kết quả.

Với định hướng nhất quán từ các Nghị quyết 57, 59, 06, Việt Nam có điều kiện đưa ngoại giao khoa học, công nghệ đi vào chiều sâu, trọng tâm là chọn đúng đối tác, tổ chức hiệu quả và đánh giá bằng kết quả phát triển thực chất. Hiệu quả không còn đo bằng số chuyến thăm hay văn kiện, mà bằng khả năng chuyển hóa quan hệ đối ngoại thành công nghệ, nhân lực và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Bộ Khoa học và Công nghệ

TIN LIÊN QUAN





















Home Icon VỀ TRANG CHỦ