Nghịch lý trụ cột chiếm 80% xuất khẩu 'mất tích' trên thị trường vốn: Khoảng trống cho cơ hội lớn?

Các diễn giả tại sự kiện.
Đóng góp tới 80% kim ngạch xuất khẩu và là trụ cột quan trọng của nền kinh tế, song sự hiện diện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) trên thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn.
Ước tính trong số khoảng 1.600 doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn chứng khoán, chỉ có 10 doanh nghiệp FDI, với vốn điều lệ 12.629 tỷ đồng và tổng tài sản 44.696 tỷ đồng, tương ứng vỏn vẹn 0,15% và 0,48% quy mô toàn thị trường.
Từ năm 2017 đến nay, có 4 doanh nghiệp FDI chuyển đổi đăng ký công ty đại chúng, nhưng không ghi nhận thêm trường hợp niêm yết mới nào.
“Doanh nghiệp niêm yết Việt Nam đang tập trung quá nhiều vào ngân hàng, bất động sản và một số cổ phiếu vốn hóa lớn. Làn sóng IPO tiếp theo của thị trường cần mở rộng thêm cơ hội cho các lĩnh vực khác”, ông Thomas Nguyễn, Giám đốc thị trường nước ngoài của CTCP Chứng khoán SSI nhấn mạnh tại sự kiện “Lộ trình niêm yết cho doanh nghiệp FDI tại Việt Nam”.
Theo ông Thomas, các doanh nghiệp FDI đang đóng vai trò trung tâm của xuất khẩu Việt Nam, nhưng lại gần như biến mất trên thị trường vốn, đó là “khoảng trống” và cũng là cơ hội của thị trường.

Ông Thomas Nguyễn, Giám đốc thị trường nước ngoài của CTCP Chứng khoán SSI
Đồng tình với quan điểm này, ông Hoàng Văn Thu, Phó chủ tịch UBCKNN (SSC) cho biết sự tham gia của khối FDI trên thị trường chứng khoán hiện nay chưa tương xứng với vai trò và đóng góp của khối này đối với nền kinh tế.
Đặt mục tiêu đầy tham vọng là đưa quy mô vốn hóa thị trường chứng khoán đạt 120% GDP vào năm 2045, giá trị huy động vốn bình quân mục tiêu đạt khoảng 2 triệu tỷ đồng/năm, mục tiêu thu hút vốn của nhóm doanh nghiệp FDI là không thể thiếu.
Việc thúc đẩy FDI niêm yết cũng nằm trong lộ trình "định chế hóa" thị trường theo Quyết định 3168, hướng tới mục tiêu các nhà đầu tư tổ chức và nước ngoài sẽ chiếm 30-40% khối lượng giao dịch sau năm 2030.
“Mục tiêu đến năm 2030, giá trị tài sản đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đạt khoảng 15% GDP”, ông Thu chia sẻ.
Mặt khác, các doanh nghiệp FDI, những đơn vị đã đầu tư rất lớn vào Việt Nam trong hàng thập kỷ qua cũng đang quan sát kỹ xu hướng này. Với hơn 5.630 dự án và tổng vốn đăng ký vượt 79,4 tỷ USD, Nhật Bản hiện là một trong những nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất của Việt Nam với những tên tuổi hàng đầu như Sumitomo, Marubeni hay Aeon.
Ông Ito Naoki, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam chia sẻ, có không ít doanh nghiệp Nhật Bản quan tâm tới niêm yết mảng kinh doanh của mình tại thị trường chứng khoán Việt Nam.
Mục tiêu của các doanh nghiệp FDI khi niêm yết nhằm gia tăng mức độ nhận diện, chuẩn mực quản trị và uy tín trên thị trường, đồng thời thể hiện cam kết dài hạn của doanh nghiệp với Việt Nam
“Sự tham gia của khối FDI vào thị trường chứng khoán có thể đa dạng hóa cơ hội đầu tư, tăng cường thanh khoản thị trường và cải thiện hơn nữa các chuẩn mực thị trường thông qua quản trị doanh nghiệp và công bố thông tin chặt chẽ”, ông Ito Naoki chia sẻ.
Tháo gỡ các "nút thắt"
Nếu niêm yết mang lại nhiều lợi ích, vậy tại sao số lượng doanh nghiệp FDI mới chỉ đếm trên đầu ngón tay?
Theo đại diện UBCKNN, “nút thắt” lớn nhất của các doanh nghiệp FDI nằm ở cam kết cụ thể với Chính phủ hoặc địa phương trong giấy chứng nhận đầu tư. Theo đó, các doanh nghiệp FDI thường cam kết tiến độ góp vốn, chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động, hoặc xây dựng hạ tầng (như đường xá, công viên).

Ông Hoàng Văn Thu, Phó chủ tịch UBCKNN (SSC).
Theo quy định của cơ quan quản lý, doanh nghiệp phải hoàn thành hoặc giải tỏa tất cả các cam kết này trước khi được chấp thuận niêm yết.
Mặt khác, sự phức tạp và mô hồ về quy định cũng khiến doanh nghiệp FDI vẫn còn bối rối về khung pháp lý hiện hành và các thủ tục cụ thể để chuyển đổi từ tư nhân sang công ty đại chúng.
Yếu tố quan trọng khác đó là nhu cầu vốn chưa thực sự lớn. Ông Trịnh Hồng Sơn, quyền chủ tịch HĐQT của sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) cho biết nhiều doanh nghiệp FDI tham gia thị trường Việt Nam chủ yếu là các chi nhánh của các tập đoàn quốc tế, hưởng nguồn vốn dồi dào từ công ty mẹ nên nhu cầu huy động vốn tại địa phương có thể chưa thực sự cấp thiết.
“Ngoài ra, áp lực về việc phải chia sẻ quyền kiểm soát và chịu sự giám sát của công chúng cũng là một yếu tố khiến họ cân nhắc kỹ lưỡng”, ông Sơn cho biết.
Mặc dù vậy, hầu hết cơ chế đã được thay đổi theo hướng thông thoáng hơn. Bà Trần Kim Dung, Phó Trưởng ban quản lý chào bán của UBCK khẳng định, luật pháp hiện hành đã không còn phân biệt đối xử giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Về quy trình, UBCKNN đã cải thiện đáng kể thủ tục kết hợp giữa IPO và niêm yết, rút ngắn thời gian xuống còn khoảng 30 ngày.
"Điểm mấu chốt doanh nghiệp cần lưu ý là phải rà soát và hoàn thành các cam kết đầu tư (về vốn, chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động...) đã ghi trong giấy chứng nhận đầu tư trước khi nộp hồ sơ niêm yết", bà Dung cho biết.
Ngoài ra, doanh nghiệp cần lập bản đồ các ngành nghề kinh doanh để đảm bảo vẫn tuân thủ tỷ lệ sở hữu nước ngoài sau khi trở thành công ty đại chúng.
Khi cơ chế gọi mời, nhu cầu niêm yết của các doanh nghiệp FDI được dự báo sẽ gia tăng. Ông Tsutomu Hiramatsu, Quản lý cao cấp của Daiwa Securities Group nhìn nhận Việt Nam hiện nay đã vượt xa vai trò của một cơ sở sản xuất hay điểm đến xuất khẩu đơn thuần.
Thay vào đó, Việt Nam đang trở thành một thị trường chiến lược cho sự tăng trưởng, đầu tư dài hạn và tiêu dùng nội địa. Do đó, việc các doanh nghiệp Nhật Bản xem xét các lựa chọn tài chính đa dạng hơn, bao gồm cả việc tham gia vào thị trường vốn Việt Nam, là một tiến trình tự nhiên.
“Khi ngày càng nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư Nhật Bản tham gia thị trường vốn Việt Nam, họ có thể góp phần gia tăng độ sâu, thanh khoản và sự đa dạng của thị trường”, ông Tsutomu Hiramatsu nhìn nhận.
Trần Anh
9 giờ trước
10 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
4 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước