🔍
Chuyên mục: Kinh tế

Nghị quyết 10 và bước chuyển của tư duy FDI

6 giờ trước
Sau gần 40 năm mở cửa, thành công của Việt Nam trong thu hút FDI gần như không còn phải chứng minh với gần 550 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, hơn 46.000 dự án còn hiệu lực và kim ngạch xuất nhập khẩu tương đương gần 200% GDP.

Bên cạnh đó, khi bài toán thu hút vốn FDI đang khá thuận lợi, một câu hỏi mới xuất hiện: Nguồn lực quốc tế đã giúp nền kinh tế Việt Nam mạnh lên đến đâu?

Theo ông Fares Al-Hussami, Trưởng bộ phận FDI Qualities & Impact của OECD, điều Việt Nam cần quan tâm hiện nay không còn là thu hút thêm bao nhiêu tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài, mà là FDI đã tạo ra bao nhiêu giá trị cho phần còn lại của nền kinh tế.

Nói cách khác, thước đo của giai đoạn phát triển mới không phải quy mô dòng vốn mà là hiệu ứng lan tỏa từ khu vực FDI sang doanh nghiệp trong nước.

Đánh giá của OECD cho thấy, hiệu ứng lan tỏa này vẫn còn khá hạn chế.

Trước hết là liên kết chuỗi cung ứng. Khoảng 40% đầu vào của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam vẫn phải nhập khẩu, trong khi doanh nghiệp tư nhân trong nước mới chỉ cung ứng khoảng 25%.

Điều đó cho thấy nhiều nhà máy FDI vẫn chủ yếu nhập linh kiện, lắp ráp tại Việt Nam rồi xuất khẩu, còn doanh nghiệp Việt Nam mới tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng thấp.

Thành công của FDI ở Việt Nam chủ yếu được phản ánh qua quy mô sản xuất và xuất khẩu, trong khi chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa tới doanh nghiệp nội địa. Ảnh: Hoàng Hà

Thứ hai là lan tỏa về công nghệ. Theo ông Al-Hussami, doanh nghiệp FDI tại Việt Nam đầu tư tương đối ít cho nghiên cứu và phát triển (R&D), trong khi các hoạt động có giá trị gia tăng cao như nghiên cứu, thiết kế hay phát triển công nghệ vẫn còn khá khiêm tốn.

Điều này đồng nghĩa phần có giá trị nhất của chuỗi giá trị - nơi tạo ra công nghệ, sở hữu trí tuệ và lợi nhuận cao vẫn chủ yếu nằm ngoài Việt Nam. Khi R&D chưa được thực hiện nhiều tại chỗ, cơ hội để doanh nghiệp trong nước học hỏi công nghệ, nâng cấp quản trị và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu cũng bị thu hẹp.

Điểm nghẽn tiếp theo là năng lực hấp thụ công nghệ. Tại Diễn đàn Đối thoại Chiến lược 2026 do Bộ Ngoại giao tổ chức gần đây, các diễn giả quốc tế cho rằng, các doanh nghiệp FDI thường xuyên thiếu lao động có kỹ năng do hệ thống đào tạo chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ.

Trong khi đó, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng và một số quy định trong lĩnh vực số vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của các dự án công nghệ cao như AI và trung tâm dữ liệu.

Nhìn tổng thể, thành công của FDI ở Việt Nam vẫn chủ yếu được phản ánh qua quy mô sản xuất và xuất khẩu, trong khi chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa tới doanh nghiệp nội địa.

Đó cũng là khoảng cách mà Nghị quyết 10 hướng tới thu hẹp: biến dòng vốn đầu tư nước ngoài thành động lực nâng cao nội lực, năng lực công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Đánh giá của OECD cũng là một trong những lý do khiến Việt Nam phải thay đổi cách tiếp cận đối với FDI. Và không chỉ Việt Nam thay đổi, mà bản thân dòng vốn đầu tư quốc tế cũng đang bước vào một chu kỳ dịch chuyển mới.

Theo TS. Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nay là Bộ Tài chính), thế giới chuyển sang một giai đoạn "toàn cầu hóa có chọn lọc", trong đó công nghệ, an ninh và phát triển bền vững trở thành những yếu tố quyết định dòng vốn sẽ chảy về đâu.

Điều đó cũng đồng nghĩa lợi thế về lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế sẽ không còn đủ sức hấp dẫn như trước.

Trong thập kỷ tới, các tập đoàn toàn cầu sẽ tiếp tục tái cấu trúc chuỗi cung ứng đồng thời đẩy mạnh đầu tư vào bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, năng lượng xanh và các ngành công nghệ có hàm lượng tri thức cao.

Cuộc cạnh tranh giữa các quốc gia vì thế cũng thay đổi, từ cạnh tranh về chi phí sang cạnh tranh về chất lượng thể chế, nguồn nhân lực, hạ tầng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Chính trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển của Việt Nam.

Theo TS Thắng, nếu gần 40 năm qua, nhiệm vụ trọng tâm là mở cửa để thu hút nguồn lực quốc tế, thì giai đoạn mới là phát huy hiệu quả các nguồn lực ấy nhằm cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới, nâng cao năng lực công nghệ, sức cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Trong bài phát biểu quán triệt Nghị quyết, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc nhấn mạnh, trong giai đoạn mới, Việt Nam cần phát huy hiệu quả các nguồn lực đó để cùng với nội lực của đất nước kiến tạo những năng lực phát triển mới của quốc gia.

Thay vì coi quy mô vốn hay số lượng dự án là thước đo chủ yếu, Nghị quyết 10 về FDI hướng tới chất lượng của dòng vốn thông qua những chỉ tiêu như tỷ lệ vốn từ các nền kinh tế phát triển, mức độ nội địa hóa, số doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI, khả năng chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Những mục tiêu đó phản ánh yêu cầu gắn kết chặt chẽ hơn giữa khu vực FDI với khu vực doanh nghiệp trong nước, thay vì để hai khu vực phát triển tương đối tách biệt.

Điều đó cũng có nghĩa lợi thế đã giúp Việt Nam thành công trong gần bốn thập kỷ qua có thể sẽ không còn đủ cho các thập kỷ tới.

Chi phí lao động cạnh tranh hay ưu đãi đầu tư vẫn quan trọng nhưng khó có thể giữ vai trò quyết định khi các tập đoàn đa quốc gia ngày càng quan tâm nhiều hơn đến hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khả năng cung ứng nhân lực chất lượng cao và mức độ tham gia của doanh nghiệp bản địa vào chuỗi giá trị.

Nếu không nâng cao năng lực hấp thụ của nền kinh tế, Việt Nam có thể tiếp tục thu hút được FDI nhưng sẽ khó thu hút được những mắt xích có giá trị gia tăng cao nhất.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, các chuyên gia quốc tế tại Diễn đàn Đối thoại Chiến lược 2026 đều cho rằng, Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ ưu đãi đầu tư sang nâng cao năng lực tiếp nhận dòng vốn chất lượng cao.

Điều đó đòi hỏi hạ tầng số và hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu của AI và trung tâm dữ liệu; nguồn nhân lực được đào tạo sát với nhu cầu doanh nghiệp; đồng thời tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp FDI với Trường đại học, Viện nghiên cứu và doanh nghiệp trong nước để thúc đẩy quá trình hấp thụ, làm chủ công nghệ.

Sau gần 40 năm mở cửa, Việt Nam không còn ở giai đoạn đi tìm nguồn vốn quốc tế. Thước đo thành công của Nghị quyết 10 cũng không còn là bao nhiêu tỷ USD FDI được cấp phép mà là bao nhiêu năng lực phát triển mới được hình thành từ dòng vốn ấy. Khi doanh nghiệp Việt Nam đủ sức đứng sâu hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu, FDI mới thực sự hoàn thành sứ mệnh lớn nhất của mình đối với nền kinh tế Việt Nam.

Lan Anh

TIN LIÊN QUAN




Bước ngoặt FDI
Báo Sài Gòn Giải Phóng 7 giờ trước

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ