Ngân hàng làm trung gian vốn như thế nào? - Phần 2: Cái phanh kinh tế quan trọng

Phần lớn tiền gửi ngân hàng là kết quả nội sinh của quá trình mở rộng tín dụng: khoản vay mới thường đi kèm khoản tiền gửi mới. Ảnh: LÊ VŨ
Ngân hàng huy động tiền gửi để làm gì?
Nếu xét toàn bộ hệ thống ngân hàng, cho vay có thể tạo ra tiền gửi. Nhưng nếu xét từng ngân hàng riêng lẻ, câu chuyện khác đi rất nhiều.
Giả sử ngân hàng A cho vay 10 tỉ đồng và ghi có 10 tỉ đồng vào tài khoản người thụ hưởng. Khi đó, một khoản tiền gửi mới được tạo ra. Nhưng nếu người thụ hưởng dùng số tiền này để trả cho người bán có tài khoản tại ngân hàng B, thì khoản tiền gửi sẽ chuyển từ ngân hàng A sang ngân hàng B. Ngân hàng A lúc này phải thanh toán cho ngân hàng B qua hệ thống thanh toán liên ngân hàng, thường bằng dự trữ mà A giữ tại ngân hàng trung ương.
Nói cách khác, từng ngân hàng có thể tạo tiền gửi khi cho vay, nhưng không chắc giữ được khoản tiền gửi đó: nếu tiền chảy sang ngân hàng khác, A phải có thanh khoản để thanh toán. Vì vậy, từng ngân hàng phải huy động và giữ tiền gửi không phải vì cần “gom đủ tiền trước rồi mới được cho vay”, mà vì cần quản lý thanh khoản (liquidity), chi phí vốn, cấu trúc nguồn vốn và các tỷ lệ an toàn.
Tiền gửi thanh toán cho ngân hàng nguồn vốn rẻ và tương đối ổn định nếu khách hàng gắn bó với hệ sinh thái dịch vụ. Tiền gửi có kỳ hạn giúp kéo dài kỳ hạn nguồn vốn, dù phải trả lãi cao hơn. Ở cấp độ toàn hệ thống, phần lớn tiền gửi ngân hàng là kết quả nội sinh của quá trình mở rộng tín dụng - khoản vay mới thường đi kèm khoản tiền gửi mới - chứ không phải từ tiền mặt gửi vào trước đó.
Đây cũng là một cái phanh kinh tế quan trọng. Nếu ngân hàng cho vay quá nhanh nhưng không giữ được tiền gửi, dự trữ và thanh khoản sẽ căng. Nếu phải nâng lãi suất huy động quá cao, biên lợi nhuận bị thu hẹp. Nếu khoản vay rủi ro, yêu cầu vốn và tổn thất tín dụng sẽ tăng. Do đó, ngân hàng có thể tạo tiền gửi khi cho vay, nhưng không thể tạo tiền vô hạn và không tốn chi phí.
Từ đây có thể thấy ngân hàng không phải trung gian theo nghĩa hẹp “gom tiền gửi có sẵn rồi đem cho vay”, nhưng vẫn là trung gian theo những nghĩa rất quan trọng. Nó là trung gian kỳ hạn và thanh khoản: người gửi muốn an toàn và rút tiền bất cứ lúc nào, trong khi người vay cần vốn dài hạn; ngân hàng đứng giữa và gánh rủi ro thanh khoản. Nó cũng là trung gian thông tin: ngân hàng thẩm định, sàng lọc và giám sát người vay thay cho người gửi tiền và xã hội.
Tín dụng không thay được kinh tế thực và cơ hội đầu tư
Phân tích trên cũng giúp nhìn lại một phản xạ chính sách quen thuộc: khi muốn đẩy nhanh tăng trưởng GDP, ta thường nghĩ ngay tới việc nới tín dụng. Nhưng nếu tín dụng chỉ tạo thêm sức mua danh nghĩa, còn của cải thật đến từ sản lượng, thì mở rộng tín dụng không tự nó nâng được năng lực sản xuất.
Cái quyết định tăng trưởng bền vững không phải lượng tín dụng bơm ra, mà là kinh tế thực có đủ cơ hội đầu tư (investment opportunities) tốt để hấp thụ nguồn vốn đó hay không - tức có dự án sinh lời thật, có năng suất (productivity) cải thiện, và quan trọng hơn cả, có một môi trường thể chế (institutions) đủ thông thoáng để các dự án ấy ra đời và vận hành.
Khi cơ hội đầu tư dồi dào, tín dụng tìm được nơi tạo thêm sản lượng tương lai và tăng trưởng đi kèm phúc lợi. Nhưng khi kinh tế thực còn yếu, dự án tốt khan hiếm và rào cản thể chế còn nhiều, việc thúc ép ngân hàng tăng tín dụng để đạt một con số tăng trưởng chỉ đẩy dòng tiền vào nơi dễ tăng giá nhất - bất động sản và tài sản tài chính - thay vì vào sản xuất.
Kết quả không phải là của cải thực, mà là lạm phát, bong bóng tài sản và nợ xấu. Như đã lập luận trong bài “GDP là phương tiện, không phải mục đích” trên Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 28-5-2026, cái đáng theo đuổi là tăng trưởng có chất lượng; và muốn vậy, dư địa thật sự nằm ở cải thiện thể chế và mở rộng cơ hội đầu tư, chứ không nằm ở việc in thêm những tấm vé tín dụng cho một đoàn tàu mà năng lực chuyên chở chưa được nâng lên.
Tiền gửi là tấm vé, chuyến tàu là nền kinh tế
“Ngân hàng tạo tiền” không mâu thuẫn với “ngân hàng trung gian vốn” nếu xét trên ba khía cạnh: kinh tế thực, kinh tế tài chính và thanh khoản ngân hàng.
Ở khía cạnh kinh tế thực, ngân hàng giúp điều phối quyền sử dụng nguồn lực thực. Tiền gửi mới trao sức mua cho người vay; người vay dùng sức mua đó mua hàng hóa, lao động, máy móc hoặc tài sản từ người khác. Nếu tín dụng đi vào dự án tốt, nguồn lực thực được phân bổ hiệu quả hơn và sản lượng tương lai tăng. Nếu tín dụng đi vào dự án kém, nền kinh tế có thể nhận lại lạm phát, bong bóng tài sản hoặc nợ xấu.
Ở góc độ kinh tế tài chính, ngân hàng tạo tiền gửi khi cho vay. Khoản vay mới đi kèm một khoản tiền gửi mới. Đây là điểm mà mô hình “gom tiền gửi rồi cho vay” không mô tả đúng.
Về phía ngân hàng, huy động vốn vẫn rất quan trọng. Nó giúp ngân hàng giữ thanh khoản, giảm chi phí vốn, kéo dài kỳ hạn nguồn vốn, đáp ứng quy định an toàn và duy trì khả năng thanh toán liên ngân hàng. Vì vậy, huy động vốn không mâu thuẫn với tạo tiền; nó giải thích vì sao khả năng tạo tiền của ngân hàng luôn bị ràng buộc bởi thanh khoản, vốn, rủi ro và lợi nhuận.
Có ba hàm ý đáng nhớ. Thứ nhất, bơm thêm tiền không tự động làm nền kinh tế giàu hơn; của cải thực đến từ sản lượng, từ cơ hội đầu tư tốt và từ một thể chế đủ thông thoáng để biến vốn thành năng lực sản xuất. Thứ hai, chất lượng tín dụng quan trọng không kém, thậm chí hơn, quy mô tín dụng. Thứ ba, ngân hàng thương mại tạo tiền gửi qua tín dụng, còn ngân hàng trung ương kiểm soát điều kiện tiền tệ chủ yếu qua lãi suất và khung thanh khoản.
Tựu trung lại, tiền gửi là tấm vé, còn chuyến tàu là nền kinh tế thực tạo ra của cải. Ngân hàng có thể phát hành thêm vé qua tín dụng, nhưng phát hành thêm vé không làm đoàn tàu lớn hơn hay chạy nhanh hơn; quá nhiều vé cho cùng một chuyến tàu chỉ khiến hành khách có vé bị bất tiện. Nền kinh tế chỉ giàu lên khi tấm vé đưa được nguồn lực thực lên đúng chuyến tàu đi tới nơi tạo ra giá trị.
TS. Phạm Phú Quốc
4 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước
3 giờ trước
2 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước
3 giờ trước