Ngân hàng làm trung gian vốn như thế nào? - Phần 1: Phân biệt hai loại tiết kiệm

Đó là, khi ngân hàng cho khách hàng vay, chẳng hạn 10 tỉ đồng, ngân hàng ghi nhận một tài sản mới - khoản khách hàng nợ mình 10 tỉ đồng - ở bên tài sản của bảng cân đối kế toán; đồng thời ghi có 10 tỉ đồng vào tài khoản người thụ hưởng (có thể là chính người vay, cũng có thể là người bán mà người vay chỉ định) ở bên nguồn vốn. Như vậy, khoản tiền gửi 10 tỉ đồng được tạo ra ngay khi ngân hàng cho vay, chứ không phải huy động rồi mới cho vay. Lý thuyết gọi đây là khả năng tạo tiền của ngân hàng thương mại: cho vay tạo tiền, chứ không phải có tiền mới cho vay.
Hai hiện tượng này đặt cạnh nhau gợi lên những thắc mắc. Nếu ngân hàng tạo ra tiền gửi ngay khi cho vay, vậy huy động vốn để làm gì? Còn nếu việc huy động vốn vẫn cần thiết, phải chăng rốt cuộc ngân hàng vẫn cho vay bằng tiền người khác gửi vào? Và sâu xa hơn, ngân hàng làm trung gian giữa người thừa vốn và người thiếu vốn theo nghĩa nào?
Bài viết này làm rõ các thắc mắc đó bằng cách phân tích các khía cạnh kinh tế thực (sản lượng và nguồn lực thực của nền kinh tế), kinh tế tài chính (tiền gửi do tín dụng tạo ra), và thanh khoản của từng ngân hàng. Khi tách đúng các khía cạnh này, ta sẽ thấy ngân hàng vừa tạo tiền, vừa làm trung gian, nhưng không theo nghĩa đơn giản là “huy động tiền gửi để có tiền rồi đem cho vay”.
Khía cạnh kinh tế thực
Trước khi nói về tiền, hãy bắt đầu với kinh tế thực. Hình dung nền kinh tế thu nhỏ như một ngôi làng. Nơi đây làm ra 100 bao lúa trong một năm. Lượng hàng hóa làm ra này, trong kinh tế học, gọi là sản lượng thực (real output) - thước đo tổng hợp của nó cho cả nền kinh tế là tổng sản phẩm trong nước thực (GDP thực). Dân làng ăn hết 60 bao - đây là tiêu dùng (consumption). Còn lại 40 bao, là tiết kiệm thực (real saving) - phần sản lượng đã làm ra nhưng chưa tiêu dùng (sản lượng trừ tiêu dùng, hay Y - C). Cần nhớ, tiết kiệm chỉ xuất hiện khi xã hội sản xuất nhiều hơn mức tiêu dùng hiện tại. Phần tiết kiệm thực này chính là nguồn lực thực (real resources) dành cho đầu tư (investment) - mở rộng sản xuất năm sau.
Vấn đề là người đang giữ 40 bao lúa dư chưa chắc là người có nhu cầu đầu tư. Người có ý tưởng mở rộng sản xuất lại có thể cần lúa giống, nhưng lại không nắm trong tay các nguồn lực tiết kiệm (40 bao lúa) đó.
Tiền gửi là tấm vé, còn chuyến tàu là nền kinh tế thực tạo ra của cải. Ngân hàng có thể phát hành thêm vé qua tín dụng, nhưng phát hành thêm vé không làm đoàn tàu lớn hơn hay chạy nhanh hơn; quá nhiều vé cho cùng một chuyến tàu chỉ khiến hành khách có vé bị bất tiện. Nền kinh tế chỉ giàu lên khi tấm vé đưa được nguồn lực thực lên đúng chuyến tàu đi tới nơi tạo ra giá trị.
Nói cách khác, tiết kiệm thực có thể nằm ở một nhóm người, còn nhu cầu đầu tư thực lại nằm ở nhóm khác. Nền kinh tế vì thế cần một cơ chế để sức mua chuyển đến người có nhu cầu, giúp họ mua và sử dụng các nguồn lực thực đang nhàn rỗi. Đây là chỗ ngân hàng và tiền xuất hiện.
Khía cạnh kinh tế tài chính
Ở phần đầu ta đã thấy: cho vay tạo ra tiền gửi mới - một phương tiện thanh toán - chứ ngân hàng không cần có sẵn tiền gửi rồi mới cho vay. Có người gọi khoản tiền gửi sinh ra theo cách này là “tiền bút toán” (fountain pen money); hiện tượng cho vay tạo tiền gửi này chính là điều lý thuyết kinh tế hiện đại gọi là tiền nội sinh (endogenous money). Nhưng câu hỏi quan trọng tiếp theo là: khoản tiền gửi mới đó dùng để làm gì, và nó liên quan thế nào tới của cải thực nói ở trên?
Khoản tiền gửi mới không làm nền kinh tế giàu lên ngay lập tức. Nó chỉ trao cho người vay sức mua (purchasing power). Người vay dùng sức mua này để mua lúa (và có thể thêm máy móc, lao động hoặc hàng hóa khác) từ những người đang nắm giữ nguồn lực thực nhưng chưa cần sử dụng. Như vậy vốn bằng tiền không tự sinh ra của cải, mà là quyền sử dụng nguồn lực thực được chuyển từ người đang nắm giữ sang người có dự án đầu tư mới tạo ra của cải.
Vì vậy, hai mệnh đề “ngân hàng tạo tiền” và “ngân hàng làm trung gian” không mâu thuẫn. Ngân hàng tạo tiền gửi ở khía cạnh kinh tế tài chính; nhờ đó, nó điều phối sức mua đối với nguồn lực thực ở khía cạnh kinh tế thực - ngân hàng vừa tạo ra sức mua, vừa giúp nhà kinh doanh tiếp cận nguồn lực cần thiết để đổi mới và đầu tư.
Giới hạn của việc tạo tiền
Đến đây có thể nảy sinh một câu hỏi: nếu ngân hàng tạo tiền gửi dễ như vậy, tại sao không tạo thật nhiều để cả nước giàu lên? Câu trả lời: tiền chỉ tạo thêm sức mua danh nghĩa; nó không tự tạo thêm sản lượng thực.
Quay lại ngôi làng. Nếu vẫn chỉ có 40 bao lúa dư nhưng ngân hàng tạo ra lượng sức mua lớn hơn rất nhiều so với số lúa sẵn có, nhiều người sẽ cùng cầm tiền đi tranh mua cùng một lượng lúa. Khi lượng tiền và tín dụng tăng nhanh hơn năng lực cung ứng hàng hóa và dịch vụ thực, áp lực giá sẽ xuất hiện. Đây là một cơ chế quan trọng tạo ra lạm phát (inflation).
Giới hạn cuối cùng của việc tạo tiền vì thế không nằm ở thao tác ghi sổ, mà nằm ở năng lực sản xuất (productive capacity) - tức mức sản lượng tiềm năng (potential output) mà nền kinh tế có thể đạt bền vững - cùng mức độ nhàn rỗi của nguồn lực và chất lượng dự án được tài trợ. Tín dụng tốt có thể giúp chuyển nguồn lực sang nơi tạo thêm sản lượng trong tương lai. Tín dụng kém, hoặc tín dụng tăng quá nhanh so với năng lực thực, có thể chỉ đẩy giá hàng hóa, giá tài sản và rủi ro tài chính lên cao. Đây cũng là lý do ngân hàng trung ương phải điều hành lãi suất, thanh khoản và kỳ vọng lạm phát.
Hai loại “tiết kiệm” thường bị nhầm làm một
Bây giờ quay lại câu nói quen thuộc “ngân hàng lấy tiền gửi để cho vay”. Câu này đúng một phần trong cảm nhận đời thường, nhưng dễ gây nhầm nếu không phân biệt hai loại tiết kiệm.
Tiết kiệm tài chính (financial saving) là số dư tiền trong tài khoản hoặc sổ tiết kiệm của bạn - một dạng của cải tài chính (financial wealth): tài sản tài chính của người gửi, đồng thời là nghĩa vụ nợ của ngân hàng. Khi bạn chuyển tiền từ tài khoản thanh toán sang sổ tiết kiệm, bạn chủ yếu chuyển một khoản tiền gửi đã tồn tại từ dạng thanh khoản cao sang dạng có kỳ hạn; bản thân thao tác đó không tạo thêm sản lượng thực cho nền kinh tế.
Tiết kiệm thực (real saving) là phần sản lượng xã hội làm ra nhưng chưa tiêu dùng (Y - C): trong ví dụ trên là 40 bao lúa. Đây mới là nguồn lực thực có thể dùng cho đầu tư. Nó chỉ phát sinh khi xã hội tiêu dùng ít hơn sản lượng hiện tại.
Vấn đề ở chỗ: khi nói ngân hàng làm trung gian giữa người thừa và người thiếu, ta không nên hiểu máy móc rằng ngân hàng chỉ chuyển tiền có sẵn từ người gửi sang người vay. Chính xác hơn, ngân hàng tạo sức mua bằng tiền gửi, rồi thông qua chi tiêu của người vay, sức mua đó điều phối quyền sử dụng nguồn lực thực trong nền kinh tế. Cũng vì thế, cần phân biệt tiết kiệm (theo nghĩa sản lượng thực chưa tiêu dùng) với khả năng tài trợ (financing) - sức mua bằng tiền tệ. Hệ thống ngân hàng có thể tạo ra rất nhiều khả năng tài trợ, vượt xa lượng tiết kiệm thực.
TS. Phạm Phú Quốc
3 giờ trước
6 phút trước
23 phút trước
24 phút trước
11 phút trước
26 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước