🔍
Chuyên mục: Giáo dục

Ngăn chặn tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

1 giờ trước
Dù xã hội ngày càng phát triển, quan niệm phải có con trai nối dõi, thờ cúng tổ tiên và chăm sóc cha mẹ khi về già vẫn tạo sức ép lên quyết định sinh con của một bộ phận gia đình. Đây cũng là một trong những vấn đề cần được nhìn nhận khi phân tích tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh ở Việt Nam.

Khi quan niệm trọng nam còn chi phối lựa chọn sinh con

Khám sức khoẻ cho trẻ em mầm non tại Trường mầm non Hồng Tiến, phường Bồ Đề. Ảnh: Mai Khôi.

Mong muốn có con trai không đơn thuần là lựa chọn riêng của mỗi cặp vợ chồng, mà còn có thể bắt nguồn từ kỳ vọng của gia đình, dòng họ và cộng đồng. Quan niệm con trai phải nối dõi, mang họ cha, thờ cúng tổ tiên, còn con gái sẽ theo gia đình chồng khiến một bộ phận người dân vẫn coi việc sinh con trai là điều cần thiết để duy trì nếp nhà.

Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam cho thấy đây là vấn đề cần được nhìn nhận từ nhiều góc độ, trong đó có những yếu tố văn hóa, xã hội. Theo báo cáo của Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) năm 2020, tỷ số giới tính khi sinh tại Việt Nam là 111,5 bé trai/100 bé gái, theo số liệu tham chiếu năm 2018. Giai đoạn 2013-2017, ước tính mỗi năm có khoảng 40.800 trẻ em gái không được sinh ra do lựa chọn giới tính trước sinh.

Theo Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2016-2025 của Bộ Y tế, tỷ số giới tính khi sinh trên phạm vi cả nước đã từng bước được khống chế, giảm từ 112,2 bé trai/100 bé gái năm 2016 xuống còn 110 bé trai/100 bé gái năm 2025.

Riêng tại Hà Nội, theo số liệu của ngành y tế thành phố, trong 9 tháng năm 2025, toàn thành phố ghi nhận 58.853 trẻ sinh ra, giảm 10.588 trẻ so với cùng kỳ năm 2024. Tỷ số giới tính khi sinh ở mức 111,05 bé trai/100 bé gái, cho thấy tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh vẫn là vấn đề cần quan tâm.

Theo bà Nguyễn Thị Hồng, ở Hà Nội, một bộ phận người dân vẫn coi trọng việc có con trai để nối dõi, thờ cúng tổ tiên. Tuy nhiên, điều cốt yếu là tình cảm và trách nhiệm của con cái đối với gia đình, không phải giới tính của người thực hiện những trách nhiệm ấy.

Cùng với quan niệm truyền thống, áp lực từ người thân và dòng họ cũng có thể khiến mong muốn có con trai trở thành gánh nặng. Ông Trần Văn Minh, ở Hà Nội, cho rằng các cặp vợ chồng đôi khi không chỉ chịu tác động từ suy nghĩ của bản thân mà còn phải đối diện với kỳ vọng của gia đình và những lời bàn tán xung quanh.

Theo TS. Nguyễn Ánh Hồng, nhà nghiên cứu văn hóa, những quan niệm hình thành qua nhiều thế hệ thường khó thay đổi chỉ bằng việc nâng cao trình độ học vấn hay cải thiện điều kiện kinh tế. Định kiến giới có thể ẩn trong những kỳ vọng tưởng như bình thường, chẳng hạn mặc định con trai phải nối dõi, còn con gái sẽ theo gia đình chồng.

Khi có con trai trở thành tiêu chuẩn đánh giá một gia đình, những cặp vợ chồng chưa có con trai có thể phải đối diện với lời thúc giục sinh thêm con hoặc sự dị nghị. Sức ép ấy không chỉ thể hiện sự bất bình đẳng trong cách nhìn nhận con trai, con gái mà còn có thể ảnh hưởng đến quyền tự quyết của phụ nữ trong sinh đẻ. Đây là khía cạnh cần được quan tâm khi tìm giải pháp khắc phục tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.

Thay đổi quan niệm, vun đắp bình đẳng từ mỗi gia đình

Theo TS. Lê Văn Sơn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình và phát triển cộng đồng, tư tưởng trọng nam là một trong những yếu tố xã hội, văn hóa cần được xem xét khi phân tích tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Khi con trai được coi là người tiếp nối gia đình, còn con gái bị mặc định sẽ rời gia đình để xây dựng cuộc sống riêng, trẻ em gái có nguy cơ bị đánh giá thấp hơn và phải đối diện với những kỳ vọng khác biệt.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa mong muốn có con trai và hành vi lựa chọn giới tính thai nhi. Không thể chỉ dựa vào quan niệm của một gia đình để kết luận có hành vi vi phạm. Vấn đề cần giải quyết là những định kiến tạo sức ép lên quyết định sinh con và làm suy giảm giá trị bình đẳng của trẻ em gái.

Trước hết, mỗi gia đình cần thay đổi cách nhìn nhận về trách nhiệm của con cái. Thờ cúng tổ tiên, chăm sóc cha mẹ và gìn giữ nếp nhà không phải nghĩa vụ riêng của con trai. Khi con gái được tạo điều kiện và ghi nhận vai trò trong những công việc này, quan niệm phải có con trai mới có thể nối dõi sẽ dần mất đi cơ sở trong đời sống thực tế.

TS. Nguyễn Ánh Hồng cho rằng gìn giữ truyền thống không có nghĩa là duy trì nguyên vẹn mọi quan niệm của các thế hệ trước. Văn hóa luôn vận động cùng xã hội; do đó, cần phát huy những giá trị tốt đẹp, đồng thời điều chỉnh những tập quán, quan niệm không còn phù hợp với yêu cầu bình đẳng giới.

Cùng với thay đổi trong mỗi gia đình, người lớn trong dòng họ cần tránh gây sức ép lên các cặp vợ chồng về việc sinh con trai. Nhiều ý kiến cho rằng, trách nhiệm của con cái cần được nhìn nhận dựa trên tình cảm và sự gắn bó với gia đình, thay vì giới tính. Đây là cơ sở để gìn giữ truyền thống mà không biến truyền thống thành gánh nặng đối với phụ nữ.

Ở cấp độ cộng đồng, công tác dân số cần kết hợp tuyên truyền với tư vấn tại cơ sở và thực hiện nghiêm các quy định pháp luật về cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Theo TS. Lê Văn Sơn, truyền thông bình đẳng giới cần gắn với đời sống, làm rõ rằng con gái cũng có thể phụng dưỡng cha mẹ, thờ cúng tổ tiên và tiếp nối những giá trị tốt đẹp của gia đình. Cách tiếp cận cần tôn trọng truyền thống, đồng thời giúp người dân nhận diện những định kiến cần thay đổi.

Hiệu quả của các giải pháp cần được đánh giá qua chuyển biến thực tế: sức ép sinh con trai có giảm, phụ nữ có được tôn trọng trong quyết định sinh con và trẻ em gái có được đối xử bình đẳng hay không. Việc theo dõi tỷ số giới tính khi sinh qua các năm, kết hợp đánh giá đặc điểm từng địa bàn, cũng giúp xác định những vấn đề cần ưu tiên giải quyết.

Mất cân bằng giới tính khi sinh khó được khắc phục nếu định kiến đứng sau lựa chọn sinh con vẫn tồn tại. Bình đẳng giới không đồng nghĩa với từ bỏ truyền thống, mà là gìn giữ những giá trị tốt đẹp theo cách tôn trọng mọi thành viên. Khi trách nhiệm nối tiếp gia đình, chăm sóc cha mẹ và gìn giữ nếp nhà không còn bị mặc định thuộc về con trai, áp lực phải sinh con trai mới có thể được tháo gỡ từ gốc rễ.

Mai Khôi



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ