🔍
Chuyên mục: Môi trường - Khí hậu

Nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên nước

1 giờ trước
Gia Lai có nguồn tài nguyên nước phong phú nhưng phân bố không đồng đều, trong khi công tác quan trắc, giám sát khai thác và bảo đảm an toàn hồ chứa còn những hạn chế.

Nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng bền vững nguồn nước là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chủ động ứng phó với các rủi ro do thiên tai.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Gia Lai có diện tích hơn 21.576 km², trải dài từ cao nguyên đến đồng bằng, ven biển. Theo Phòng Tài nguyên nước và Khí tượng thủy văn (Sở Nông nghiệp và Môi trường), kiểm kê năm 2025 xác định toàn tỉnh có 879 nguồn nước mặt, gồm 226 sông, suối, kênh, rạch và 653 hồ, ao, đầm, phá. Hệ thống thủy lợi có 282 hồ chứa, 486 đập dâng, 272 trạm bơm và 7.813 km kênh mương.

Tăng cường giám sát, khắc phục bất cập

Đặc điểm địa hình, khí hậu đặt ra những yêu cầu quản lý khác nhau giữa hai khu vực của tỉnh. Cụ thể, phía Tây thường hạn hán, thiếu nước sản xuất và sinh hoạt; phía Đông chịu tác động của bão, lũ, ngập vùng hạ du, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ xâm nhập mặn, xói lở bờ sông, bờ biển.

Khu vực phía Tây tỉnh thường thiếu nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất trong mùa nắng nóng. Ảnh: Thanh Tuấn

Ngày 23-7-2026, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 3106/QĐ-UBND điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, phân chia tài nguyên nước thành 17 tiểu lưu vực chính để quản lý, phân bổ nước.

Tuy nhiên, năng lực chuyên môn, cơ sở vật chất ở một số địa phương còn hạn chế sau khi thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp. Từ đầu năm 2026 đến nay, cơ quan chức năng đã phát hiện, xử phạt 6 trường hợp vi phạm trong lĩnh vực tài nguyên nước với tổng số tiền hơn 219 triệu đồng.

Mặt khác, dữ liệu về nguồn nước, giấy phép, công trình khai thác và nhu cầu sử dụng chưa kết nối đồng bộ; hệ thống giám sát chưa đáp ứng yêu cầu phân tích, cảnh báo, kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia. Mạng lưới quan trắc chất lượng nước cũng còn hạn chế.

Ông Vũ Ngọc An - Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường - cho rằng: Cần giải quyết đồng bộ những hạn chế trong quan trắc, giám sát, cấp phép và bảo đảm an toàn đập, nhất là khi thời tiết ngày càng bất thường do biến đổi khí hậu.

Toàn tỉnh có 159 trạm đo mưa, 90 trạm đo mực nước nhưng dữ liệu chưa được tích hợp. Trong 282 hồ chứa, chỉ 53 hồ có cửa van điều tiết; 66 hồ có quy trình vận hành, 216 hồ chưa có quy trình vận hành và 86 hồ đã được kiểm định an toàn. Trước mùa mưa lũ năm 2026, còn 12 hồ có nguy cơ mất an toàn cao, đều do cấp xã quản lý; 10 hồ phải hạn chế tích nước, trong đó, hồ Bàu Sen (xã Bình Phú) và hồ Chư Gu (xã Ia Rsai) không được tích nước. Một số hồ chưa có kinh phí lập bản đồ ngập lụt hạ du.

Áp lực khai thác nước dưới đất cũng đáng lưu ý tại những khu vực tập trung cơ sở sản xuất. Tại xã Ia Lâu, trang trại heo Hợp Thành của Công ty TNHH Hợp Thành Gia Lai được cấp phép khai thác qua 5 giếng khoan, lưu lượng 300 m³/ngày đêm; nguồn nước sử dụng gồm 70% nước ngầm, 15% nước mưa và 15% nước thải tái sử dụng.

Tuy nhiên, trong bán kính 1,5 km còn có 4 trang trại lớn và 1 trang trại chuối rộng 100 ha cùng khai thác nước dưới đất. Một giếng của công ty có dấu hiệu suy giảm mực nước, chất lượng nước, trong khi khu đất không còn vị trí khoan thay thế. Vì vậy, theo bà Đào Thị Thái Loan - Phó Giám đốc công ty, DN cần tính toán giải pháp tiết kiệm nước ngay từ khâu thiết kế dự án, đầu tư thu gom nước mưa và xử lý nước thải để tái sử dụng.

Hồ Hội Sơn (xã Hội Sơn) có vai trò tích trữ, điều tiết và phân phối nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Ảnh: Trọng Lợi

Ở chiều ngược lại, thủy điện Nước Xáng của Công ty CP Thủy điện An Quang tại xã An Hòa và An Toàn duy trì lưu lượng xả sau đập không thấp hơn 0,21 m³/s để bảo đảm dòng chảy tối thiểu, lắp thiết bị đo, camera giám sát và truyền dữ liệu về Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Nông nghiệp và Môi trường). Từ năm 2017, DN này đã nộp 3,55 tỷ đồng tiền cấp quyền khai thác, hơn 34,1 tỷ đồng thuế tài nguyên nước và hơn 12,6 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Việc tăng cường hậu kiểm là cần thiết để bảo đảm tuân thủ quy định về khai thác, sử dụng nước.

Đồng bộ giải pháp, rõ trách nhiệm từ cơ sở

Theo ông Vũ Ngọc An, Sở Nông nghiệp và Môi trường sẽ tham mưu UBND tỉnh bổ sung điểm quan trắc, tăng cường chia sẻ dữ liệu, ứng dụng công nghệ mô phỏng ngập lụt và xây dựng bản đồ cảnh báo, hướng tới cung cấp thông tin cho người dân vùng hạ du trước ít nhất 6 giờ khi có nguy hiểm.

Bên cạnh đó, ngành chức năng ưu tiên xử lý hồ có nguy cơ mất an toàn cao, kiểm tra việc hạn chế, cấm tích nước, hoàn thiện quy trình vận hành và phương án sơ tán dân, nhất là tại hồ lớn, gần khu dân cư. Việc phân cấp quản lý phải đi đôi với hướng dẫn kỹ thuật, bố trí nguồn lực và xác định rõ trách nhiệm.

Với nước dưới đất, tỉnh định hướng tăng cường kiểm soát khai thác tại khu vực tập trung trang trại, cơ sở sản xuất; đánh giá mật độ giếng, khả năng bổ cập, mực nước; đẩy mạnh kê khai, đăng ký và trám lấp giếng không còn sử dụng. Riêng xã Phú Thiện có 9.565 giếng phục vụ sinh hoạt, 171 giếng khai thác nước dưới đất phục vụ tưới và 2.789 hộ sử dụng nước từ công trình cấp nước tập trung, đòi hỏi chính quyền cơ sở phối hợp chặt chẽ với cơ quan chuyên môn trong kiểm kê, giám sát.

Ông An nhấn mạnh yêu cầu hậu kiểm sau cấp phép (sản lượng khai thác, thiết bị quan trắc, báo cáo và nghĩa vụ tài chính); kịp thời xử lý hành vi khai thác không phép, vi phạm dòng chảy tối thiểu, gây ô nhiễm; bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ cấp xã.

Về lâu dài, Sở Nông nghiệp và Môi trường kiến nghị tỉnh bố trí kinh phí điều tra, đánh giá nước dưới đất, xây dựng kế hoạch bảo vệ nguồn nước và nâng cấp công trình cấp nước tập trung, nhất là ở nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thường thiếu nước.

Địa phương cần thống kê công trình khai thác, bảo vệ hành lang nguồn nước, giám sát nước sinh hoạt; DN và người dân thực hiện đúng quy định, tiết kiệm, tái sử dụng nước. Sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, địa phương và người sử dụng nước là điều kiện quan trọng để bảo đảm an ninh nguồn nước.

TRỌNG LỢI

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ