Nam kỹ sư 38 tuổi gần liệt vì ung thư phổi tái phát, bác sĩ tìm cách giữ đôi chân
Ung thư phổi tái phát, di căn xương chèn ép tủy khiến nam kỹ sư 38 tuổi gần như mất khả năng vận động, rối loạn đại tiểu tiện. Ca bệnh càng phức tạp khi tổn thương nằm trong vùng từng được xạ trị liều 60 Gy và người bệnh không còn chỉ định phẫu thuật.
Từ ung thư phổi đến nguy cơ liệt hai chân
Là kỹ sư ngành dầu khí với lối sống lành mạnh, anh P.M.T (hiện 38 tuổi) không nghĩ mình có thể mắc ung thư phổi khi mới 34 tuổi.
Năm 2022, sau khi được chẩn đoán tại một cơ sở y tế, anh trải qua phẫu thuật, hóa trị và xạ trị với mục tiêu điều trị triệt căn. Bệnh được kiểm soát, anh trở lại công việc và cuộc sống thường ngày.
Tuy nhiên, đến năm 2024, ung thư tái phát và di căn chèn ép tủy sống. Anh bắt đầu hành trình tìm kiếm cơ hội điều trị tại nhiều cơ sở chuyên sâu trên cả nước, nhưng kết quả không như mong đợi. Đáng nói, anh từng bị từ chối phẫu thuật bởi tổn thương nằm trong vùng đã từng xạ trị với liều 60 Gy, khiến cơ hội can thiệp ngoại khoa gần như khép lại.
Đến tháng 1/2026, bệnh diễn tiến nặng hơn khi ung thư tái phát ở phổi và xương. Anh dần mất cảm giác hai chân, gần như không thể vận động, kèm theo rối loạn đại tiểu tiện.
Từ một người vẫn có thể làm việc, sinh hoạt bình thường, anh đứng trước nguy cơ mất hoàn toàn khả năng đi lại.

Tổn thương chèn ép tủy diễn tiến nhanh trong vùng đã từng xạ trị, làm thu hẹp đáng kể các lựa chọn can thiệp (Ảnh: BVCC)
Chèn ép tủy do ung thư: Tình huống cần xử trí khẩn cấp
Trực tiếp điều trị cho bệnh nhân, ThS.BS Nguyễn Mạnh Hà - Trung tâm Ung bướu, Xạ trị và Y học hạt nhân Quốc tế Phương Đông cho biết, khi nhập viện, người bệnh yếu hai chân, gần như mất khả năng vận động và rối loạn đại tiểu tiện. Đây vừa là tình trạng cấp cứu ung bướu đòi hỏi xử trí khẩn trương, vừa đặt ra bài toán lựa chọn chiến lược điều trị tối ưu, khi người bệnh đã trải qua nhiều phương pháp trước đó nhưng chưa đạt hiệu quả.
Ca bệnh đặc biệt phức tạp khi khối u chèn ép tủy diễn tiến nhanh, trong khi tổn thương nằm trong vùng đã từng xạ trị liều cao và người bệnh không còn chỉ định phẫu thuật. Tình huống này đặt ra bài toán cân bằng giữa yêu cầu kiểm soát tổn thương đang tiến triển và giới hạn an toàn của vùng mô đã từng chịu liều xạ trị trước đó.
Cuộc hội chẩn đa chuyên khoa nhanh chóng được kích hoạt với sự tham gia của các chuyên gia ung bướu, xạ trị, chẩn đoán hình ảnh và các chuyên khoa liên quan. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tình trạng người bệnh, ê-kíp thống nhất ưu tiên xạ trị cấp cứu nhằm kiểm soát tổn thương chèn ép tủy, bảo tồn chức năng thần kinh và khả năng vận động.
Chưa đầy 24 giờ sau khi nhập viện, anh T. được chỉ định xạ trị kỹ thuật cao với liều xạ và thể tích chiếu xạ được cá thể hóa nhằm kiểm soát tổn thương; đồng thời hạn chế nguy cơ ảnh hưởng đến các cơ quan và mô lành xung quanh, đặc biệt tại vùng đã từng xạ trị.

Sau điều trị, anh T. từng bước phục hồi khả năng vận động (Ảnh: BVCC)
Chỉ sau một thời gian ngắn, những tín hiệu hồi phục tích cực đã xuất hiện. Từ chỗ đứng trước nguy cơ mất hoàn toàn khả năng vận động, anh T. dần lấy lại cảm giác ở đôi chân và có thể tự đứng dậy đi lại.
Trường hợp của anh T. cho thấy với những ca ung thư tái phát, di căn và đã trải qua nhiều phương pháp điều trị, chiến lược tiếp theo cần được xây dựng dựa trên tình trạng thực tế của từng người bệnh.
Mục tiêu điều trị không chỉ dừng ở việc kiểm soát khối u mà còn phải tính đến khả năng bảo tồn chức năng thần kinh, giảm triệu chứng và duy trì chất lượng sống.
Đặc biệt, ở bệnh nhân ung thư, các dấu hiệu như đau lưng tăng dần, tê yếu chân, khó đi lại, mất cảm giác hoặc xuất hiện rối loạn đại tiểu tiện cần được thăm khám sớm. Khi có chèn ép tủy, thời điểm can thiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bảo tồn chức năng thần kinh của người bệnh.
Phương Thu
3 phút trước
27 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
46 phút trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
2 giờ trước
3 giờ trước