🔍
Chuyên mục: Công nghệ

Muốn có công nghệ chiến lược, phải có cơ chế tài chính chiến lược

5 giờ trước
Muốn làm chủ trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, robot hay công nghệ lượng tử, Việt Nam không chỉ cần đội ngũ nhà khoa học giỏi mà còn cần một cơ chế tài chính đủ mạnh để nuôi dưỡng những công nghệ có độ rủi ro cao và chu kỳ đầu tư dài.

Ngày 9/7, tại Hà Nội, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo "Góp ý hoàn thiện cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược quốc gia đặc biệt sử dụng ngân sách nhà nước".

Hội thảo nhằm lấy ý kiến các chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan quản lý và tổ chức liên quan để hoàn thiện Dự thảo Chương trình Khoa học Công nghệ và Đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược và Dự thảo Thông tư quy định cơ chế tài chính đối với nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.

Toàn cảnh chương trình.

Từ "quản lý chi phí" sang "đầu tư tạo công nghệ"

Những năm gần đây, Việt Nam liên tiếp ban hành nhiều chính sách lớn nhằm xây dựng năng lực tự chủ về khoa học và công nghệ. Sau Nghị quyết 57-NQ/TW, Chính phủ đã ban hành danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược, đồng thời đặt mục tiêu hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn, đủ sức làm chủ và thương mại hóa những công nghệ then chốt, góp phần bảo đảm chủ quyền công nghệ quốc gia.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Thành, Kế toán trưởng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED), để hiện thực hóa những mục tiêu đó, điều cần thay đổi trước tiên lại chính là cơ chế tài chính.

Trình bày tại hội thảo, bà Thành cho rằng các cơ chế hiện hành chủ yếu được xây dựng cho hoạt động nghiên cứu khoa học truyền thống, trong khi nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược có đặc điểm hoàn toàn khác: quy mô đầu tư lớn, thời gian kéo dài, rủi ro cao và cần sự tham gia đồng thời của Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu cũng như các chuyên gia hàng đầu.

Theo bà, cơ chế hiện nay còn bộc lộ bốn hạn chế lớn.

Đó là thù lao dành cho nhân lực khoa học chưa đủ sức cạnh tranh để thu hút chuyên gia xuất sắc; dự toán vẫn lập theo từng khoản mục chi tiết, chưa phản ánh toàn bộ vòng đời phát triển của công nghệ; việc quản lý ngân sách vẫn nặng về kiểm soát đầu vào, thay vì đánh giá theo kết quả đầu ra; đồng thời chưa có cơ chế cho phép nhiều nhóm nghiên cứu cùng triển khai một bài toán công nghệ để lựa chọn phương án tối ưu.

Theo phân tích của bà Nguyễn Thị Kim Thành, nếu tiếp tục sử dụng tư duy "quản lý chi phí", rất khó tạo ra những công nghệ lõi có khả năng cạnh tranh quốc tế. Điều cần thiết hiện nay là chuyển sang tư duy "đầu tư tạo công nghệ", trong đó ngân sách Nhà nước không chỉ tài trợ cho nghiên cứu mà còn đồng hành với toàn bộ quá trình từ nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử cho đến thương mại hóa sản phẩm.

Đó cũng là lý do dự thảo Thông tư được xây dựng với định hướng thay đổi căn bản phương thức quản lý tài chính đối với các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Bà Nguyễn Thị Kim Thành, Kế toán trưởng Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) phát biểu tại hội thảo.

Đầu tư cho con người và kết quả đầu ra

Điểm nhấn lớn nhất của dự thảo là sáu cơ chế tài chính đột phá, trong đó trọng tâm là quản lý theo kết quả thay vì theo chứng từ.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Thành, thay vì giải ngân theo từng khoản chi, kinh phí sẽ được phân bổ theo vòng đời công nghệ, từ nghiên cứu - phát triển, chế tạo mẫu, kiểm định công nghệ (TRL), sản xuất thử đến thương mại hóa. Mỗi giai đoạn đều gắn với các mốc đánh giá (milestone) và sản phẩm đầu ra cụ thể. Khi nhiệm vụ hoàn thành mốc kỹ thuật và được hội đồng chuyên môn xác nhận, kinh phí sẽ được giải ngân tương ứng. Nếu không đạt yêu cầu, nhiệm vụ có thể được điều chỉnh hoặc dừng thực hiện.

Song song với đó, dự thảo đề xuất quản lý theo Work Package (gói công việc). Mỗi gói được xác định rõ mục tiêu, tiến độ, nguồn lực và sản phẩm bàn giao. Theo bà Thành, cách tiếp cận này sẽ giúp các đơn vị chủ trì chủ động hơn trong sử dụng ngân sách nhưng vẫn bảo đảm trách nhiệm giải trình thông qua kết quả cuối cùng.

Một nội dung thu hút nhiều ý kiến tại hội thảo là cơ chế đãi ngộ nhân lực khoa học.

Theo dự thảo, mức thu nhập của các vị trí chủ chốt được xây dựng trên cơ sở tham chiếu hệ thống lương của Cơ quan Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Singapore (A*STAR), sau đó quy đổi theo sức mua tương đương (PPP) để phù hợp với điều kiện Việt Nam.

Theo đó, Tổng công trình sư có thể nhận mức thù lao khoảng 300 triệu đồng/tháng, Kiến trúc sư trưởng khoảng 250 triệu đồng/tháng, Chủ nhiệm nhiệm vụ khoảng 150 triệu đồng/tháng và chuyên gia khoa học xuất sắc khoảng 140 triệu đồng/tháng.

Lý giải về đề xuất này, bà Nguyễn Thị Kim Thành nhấn mạnh đây không phải chính sách trả lương đại trà, mà chỉ áp dụng với những vị trí đặc biệt trong các nhiệm vụ công nghệ chiến lược quốc gia. Mức thù lao được tính toán trên cơ sở tham chiếu quốc tế, quy đổi theo thu nhập sau thuế và điều chỉnh theo sức mua tương đương, nhằm tạo sức cạnh tranh trong khu vực nhưng vẫn phù hợp điều kiện kinh tế Việt Nam.

Đề xuất này nhằm tháo gỡ một trong những "điểm nghẽn" lớn nhất của khoa học công nghệ Việt Nam hiện nay là khó thu hút và giữ chân các chuyên gia đầu ngành, đặc biệt trong các lĩnh vực AI, chip bán dẫn, robot hay công nghệ lượng tử - những lĩnh vực đang có sự cạnh tranh rất mạnh về nhân lực trên phạm vi toàn cầu.

Ngoài ra, dự thảo cũng đề xuất bổ sung nhiều cơ chế mới như cho phép sử dụng kinh phí dự phòng linh hoạt; trao quyền tự chủ trong lựa chọn nhà cung cấp; tổ chức nhiều nhóm nghiên cứu độc lập cùng giải quyết một bài toán công nghệ để lựa chọn phương án tối ưu; đồng thời quản lý theo chuỗi nhiệm vụ thay vì từng đề tài riêng lẻ.

Theo bà Nguyễn Thị Kim Thành, mục tiêu cuối cùng của những thay đổi này là hình thành một cơ chế tài chính đủ mạnh để thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Nhà nước sẽ chuyển từ vai trò cấp phát kinh phí sang đầu tư theo kết quả; doanh nghiệp được khuyến khích tham gia ngay từ đầu trong quá trình đồng tài trợ và thương mại hóa; các viện nghiên cứu và trường đại học tập trung làm chủ công nghệ lõi; còn nhà khoa học được hưởng cơ chế đãi ngộ tương xứng với năng lực và đóng góp.

Dự thảo Thông tư hướng tới mục tiêu xây dựng một cơ chế tài chính mang tính đột phá, phù hợp với thông lệ quốc tế nhưng vẫn đáp ứng điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Ban soạn thảo mong muốn tiếp tục tiếp thu ý kiến của các bộ, ngành, địa phương, chuyên gia và cộng đồng khoa học để hoàn thiện văn bản, tạo nền tảng triển khai hiệu quả Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược trong giai đoạn 2026-2030.

Thu Hương

TIN LIÊN QUAN













Home Icon VỀ TRANG CHỦ