🔍
Chuyên mục: Môi trường - Khí hậu

Mùa khô tại Đồng bằng sông Cửu Long: Hạn - mặn, bài toán thuận thiên và đừng 'bi đát hóa'

4 giờ trước
Hạn hán và nhiễm mặn khiến người dân phải đối mặt với nhiều khó khăn khi mùa khô tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang bước vào thời kỳ cảnh báo với nền nhiệt cao. Khái niệm 'thuận thiên' đã được đưa ra có cách nhìn đa chiều hơn.

Cống đập Cái Lớn, Cái Bé, dự án hạ tầng quan trọng nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn tại An Giang

Phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam đã có cuộc trao đổi cùng Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện. Ông là chuyên gia nghiên cứu độc lập nổi tiếng về sinh thái, biến đổi khí hậu tại ĐBSCL và lưu vực sông Mê Kông.

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện nổi bật với quan điểm phát triển bền vững, thuận thiên và thường xuyên đưa ra các dự báo, giải pháp căn cơ về hạn mặn, an ninh lương thực và bảo vệ dòng sông Mê Kông.

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện. Ảnh: NVCC

Phóng viên: Thưa thạc sĩ, ĐBSCL hiện đang đối diện với nhiều vấn đề nghiêm trọng như xâm nhập mặn, sạt lở bờ sông, bờ biển, cạn kiệt tài nguyên, nắng nóng, hạn hán. Là một chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL với bề dày kinh nghiệm hơn 30 năm, xin ông lý giải vì sao có tình trạng này?

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện: Xét vị trí địa lý, ĐBSCL là phần cuối cùng của lưu vực sông Mekong tiếp giáp với biển, do đó các vấn đề của ĐBSCL có thể xếp thành 3 nhóm tác nhân chính.

Thứ nhất, ảnh hưởng từ thượng nguồn xuống, gồm có biến đổi khí hậu ở thượng nguồn ảnh hưởng lượng mưa và tác động của thủy điện làm biến đổi dòng chảy, chặn nguồn cát, phù sa, và tài nguyên thủy sản tự nhiên.

Thứ hai, nước biển dâng làm cho đồng bằng ngày càng thấp hơn so với mực nước biển và biến đổi khí hậu tại chỗ, nắng nóng vào những năm có thời tiết El Nino cực đoan.

Thứ ba, những vấn đề nội tại của ĐBSCL do nền nông nghiệp thâm canh chạy theo sản lượng trong nhiều thập kỷ với đê bao khép kín để trồng lúa 3 vụ ở phía thượng nguồn làm mất không gian hấp thu lũ, phù sa, thủy sản dẫn đến cạn kiệt dinh dưỡng đất; ở phía ven biển thì quá nhiều công trình ngọt hóa, cơi nới vùng ngọt ra vùng mặn một cách trái tự nhiên gây tù đọng, ô nhiễm sông ngòi không còn sử dụng được nữa nên dẫn đến việc khai thác nước ngầm gây sụt lún đất với tốc độ gấp 3-4 lần nước biển dâng.

Thủy triều từ biển vào nội địa đồng bằng (trên sông Tiền, sông Hậu) khác với vào nội đồng (bên trong những cánh đồng). Ảnh: Minh Khang

Phóng viên: Vấn đề hạn - mặn cứ tới mùa khô lại gióng lên tiếng chuông cảnh báo, năm nay cũng không nằm ngoài quy luật, tuy nhiên, ông đã từng khẳng định đừng nên "bi đát hóa" thực tế. Vậy ông giải thích về việc này ra sao?

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện: Cứ mỗi mùa khô đến chúng ta bị "ám ảnh" bởi xâm nhập mặn. Điều này có thể lý giải như sau. Một thời gian dài, chúng ta xem nước mặn là kẻ thù và với một nền nông nghiệp tập trung vào tối đa hóa sản lượng lúa, nên chúng ta đã can thiệp rất thô bạo vào tự nhiên đồng bằng. Các vùng ngọt hóa hiện nay là những vùng mà ngày trước trong điều kiện tự nhiên có 2 mùa ngọt-lợ luân phiên, mùa mưa thì ngọt do mưa, trồng được một mùa lúa, mùa khô thì nước mặn pha với nước ngọt thành nước lợ, rất giàu thủy sản. Sau đó chúng ta xây dựng đê cống để "ngọt hóa", tức là trữ nước ngọt từ mùa mưa mưa sang mùa khô và ngăn không cho mặn vào trong mùa khô. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày nay thì các khu ngọt hóa trở nên mong manh.

Tôi thấy rằng, truyền thông báo chí như một thói quen, cứ mùa khô đến thì liên tục giật tít về hạn-mặn, dù mùa khô năm đó có thể là một mùa khô bình thường. Ví dụ mùa khô 2024, người ở vùng khác theo dõi truyền thông có thể nghĩ cả đồng bằng đang khát nước, đang oằn oại vì khô hạn nhưng thực tế năm đó, sông Cửu Long vẫn đầy, 90% đồng bằng vẫn đủ nước và thực tế khô hạn chỉ xảy ra bên trong các vùng ngọt hóa ven biển vì các vùng này có đê cống khép kín, lượng nước ngọt trữ bên trong gặp nắng nóng El Nino thì bốc hơi hết ngay đầu mùa khô khoảng tháng 1, tháng 2. Các khu này vì không cho nước mặn vào nên trở nên khô khốc, không có nước ngọt, cũng không có nước mặn làm cho đất bị khô đến nứt nẻ. Ống kính truyền thông chiếu cận cảnh các khu này và vẽ nên một đồng bằng thật bi đát. Thực tế không đến như vậy.

Còn việc mặn có thể thọc sâu vào nội địa đồng bằng theo các cửa sông Cửu Long một phần do nước biển dâng, nhưng phần còn lại là vì tất cả các nhánh sông Cửu Long từ biển vào đều có đê cống hai bên, thủy triều không còn lan tỏa được nữa, nên chảy mạnh trong sông chọc thẳng vào trung tâm đồng bằng. Một nghiên cứu cho thấy nếu chúng ta thả một cái chai ở cửa sông Cổ Chiên ngày nay thì cái chai sẽ trôi vào tới chân cầu Mỹ Thuận nhanh hơn khoảng 40 phút so với trước đây vì hai bên sông có đê cống khép kín.

Có khi mặn chỉ theo chu kỳ thủy triều nước rong, theo dòng chính thọc sâu vào vài ngày rồi rút ra. Khi đó báo chí nắm lấy thông tin khoảng cách mặn vào và giật tít là mặn đã gần bằng 2016 và 2020. Có khi mặn theo thủy triều dòng chính đẩy vào nội địa đồng bằng thì báo chí lại dùng từ "mặn vào sâu nội đồng". Chúng ta lưu ý, thủy triều từ biển vào nội địa đồng bằng (trên sông Tiền, sông Hậu) khác với vào nội đồng (bên trong những cánh đồng).

Tức là hạn mặn là có nhưng không phải tất cả các năm và không phải toàn bộ ĐBSCL mà chỉ những nơi đã bị can thiệp thô bạo, trái quy luật tự nhiên trong một thời gian dài.

Phóng viên: Nhiều năm trước, ông đưa ra khái niệm cần nâng sức "đề kháng" cho ĐBSCL. Xin hỏi, sau gần chục năm, sức "đề kháng" ấy đã được nâng lên chưa và nhìn thẳng vào thực tế thì hiện nay đang ở mức độ nào, thưa ông?

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện: Năm 2017, nhận biết được tình hình nghiêm trọng của ĐBSCL, Chính phủ đã triệu tập một hội nghị chưa từng có về ĐBSCL để huy động trí tuệ đa ngành, đưa ra Nghị quyết 120 (NQ120), xác định hướng đi chính cho ĐBSCL là hướng "thuận thiên".

Theo đó ĐBSCL chỉ có một bản Quy hoạch tích hợp cho toàn đồng bằng, tích hợp tất cả các ngành vào một quy hoạch để hài hòa hóa. Trước đây khi chưa có Luật quy hoạch 2017 thì ĐBSCL có tới hơn 2500 bản quy hoạch, chồng chéo nhau.

Quy hoạch tích hợp ĐBSCL cho giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn 2050 đã được Thủ tướng phê duyệt ngày 28/2/2022 và được công bố tại Cần Thơ.

Thực hiện đúng NQ120 và Quy hoạch này thì chúng ta không còn phải ám ảnh bởi mặn mỗi mùa khô đến. Quy hoạch này xem ĐBSCL là một cơ thể sống, sức đề kháng đến từ việc khôi phục sức khỏe tự nhiên của đồng bằng chứ không phải từ các công trình to lớn can thiệp thô bạo trái quy luật tự nhiên.

Phóng viên: Vậy theo ông, trước các thách thức tồn tại, bài toán "thuận thiên" vẫn còn nguyên giá trị hay đã có biến chuyển gì khác nữa không?

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện: Vẫn còn nguyên giá trị. Đồng bằng chúng ta đang ở ngã ba đường, con đường cũ của việc tập trung vào cây lúa, thâm canh, chạy theo sản lượng, dùng công trình to lớn can thiệp thô bạo vào tự nhiên đã cho thấy làm mất sức đề kháng của đồng bằng. Tác động của nước biển dâng, biến đổi khí hậu, và thủy điện là có thật và rất nghiêm trọng nhưng sự tổn thương của một thực thể như đồng bằng còn đến từ sức khỏe nội tại bị suy yếu, mất sức, do hệ thống tự nhiên bị can thiệp thô bạo đến "què quặt" nữa.

Đê bao khép kín ở vùng thượng nguồn làm nước mùa lũ không vào đồng ruộng được nên dồn về vũng giữa đồng bằng. Khi đó thủy triều từ biển vào theo các cửa sông bị đê cống hai bên bờ sông chặn không cho lan tỏa, thì chọc thẳng vào vùng giữa. Hai nguồn nước này gặp nhau ở vùng giữa nơi ruộng vườn cũng có đê bao khép kín thì dâng cao trong lòng sông, gây ngập sâu các đô thị vùng giữa như Ngã Bảy, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho. Có thể nói đồng bằng đã chính thức bước vào cuộc đua "Đê tinh-Thủy tinh" không có hồi kết. Càng đê bao khép kín bao nhiêu thì đô thị càng ngập sâu bấy nhiêu.

Con đường "thuận thiên" không trái quy luật tự nhiên theo NQ120 và Quy hoạch tích hợp ĐBSCL không chỉ có thể giúp đồng bằng phục hồi mà còn có thể đưa đồng bằng đi tới một tương lai thịnh vượng, hài hòa với thiên nhiên.

Phóng viên: Quy hoạch tích hợp ĐBSCL thời kỳ 2021-2030 đã đi được nửa chặng đường rồi. Sự bối rối thời gian đầu, hẳn là giờ đã không còn tồn tại. Vậy với cách đánh giá của ông, việc phát triển bền vững thực sự cho ĐBSCL đã đạt được kỳ vọng chưa? Người nông dân đã thích ứng với các biến đổi khí hậu để uyển chuyển trong việc sinh kế, canh tác ra sao?

Thạc sỹ Nguyễn Hữu Thiện: Việc Chính phủ đưa ra NQ120 và Quy hoạch tích hợp ĐBSCL đã thổi một luồng sinh khí mới, giúp thay đổi tư duy của nhiều bên. Nhiều mô hình canh tác mới đã được thực hiện phù hợp tự nhiên, có sức chống chịu tốt trong bối cảnh mới.

Rất tiếc là trong thời gian qua, do có quá nhiều ưu tiên khác, có vẻ Chính phủ ít nhắc đến NQ120 và Quy hoạch tích hợp và do sự giật gân, bi đát hóa tình hình của truyền thông nên tư duy cũ có vẻ đang trỗi dậy trở lại, với nhiều công trình can thiệp thô bạo vào tự nhiên tiếp tục mọc lên.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có quyền hy vọng về một tương lai tươi đẹp cho ĐBSCL. Một chính sách đúng đắn như vậy, trước sau cũng sẽ được thiên nhiên lên tiếng ủng hộ.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn thạc sỹ đã cùng bàn luận chủ đề này!

Đinh Thu Hiền

TIN LIÊN QUAN




























Home Icon VỀ TRANG CHỦ