🔍
Chuyên mục: Ẩm thực

Mùa điên điển trổ bông

2 giờ trước
Trời còn chưa kịp sáng, màn sương mỏng như tấm khăn voan phủ lên mặt sông Tiền, sông Hậu. Từ bến nước trước nhà, má Bảy nhẹ tay đẩy chiếc xuồng ba lá rời bờ. Mỗi nhịp mái dầm chạm xuống dòng nước phù sa đều đặn nghe như có ai đang gõ nhịp song lang giữa mênh mang đồng nước để má hát bài vọng cổ 'Lá trầu xanh...'.

Hoa nở theo con nước

Tiếng ca cứ thế tan vào sương sớm, hòa với tiếng chim thức giấc trên những hàng bần, hàng điên điển bắt đầu trổ bông. Tôi không còn nhớ đã bao mùa nước nổi đi qua đời mình, chỉ biết rằng mỗi lần nhìn những chùm điên điển vàng rực ven sông, ký ức tuổi thơ lại theo con nước ùa về và trong sắc vàng bình dị ấy có bóng dáng má Bảy cùng chiếc xuồng ba lá, có con cá linh đầu mùa, mùi bánh xèo thơm lừng trong gian bếp nhỏ, cả cốt cách của những con người suốt đời nặng tình với đất, với sông và với nhau.

Mỗi lần nghĩ về mùa nước nổi của quê nhà, hình ảnh hiện lên đầu tiên trong tôi luôn là những chùm điên điển vàng óng ven sông. Loài cây không được ai gieo trồng, cũng chẳng cần chăm bón. Mỗi năm, khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu đánh thức đồng đất, nước từ thượng nguồn sông Mekong chậm rãi đổ về, điên điển lại lặng lẽ vươn mình khỏi mặt nước. Nước dâng tới đâu, cây lớn, kiêu hãnh vươn dài tới đó. Rồi đến một buổi sáng nào đó, trên những cành mảnh mai bỗng bừng lên những chùm hoa vàng rực như mang cả cái nắng phương Nam đậu xuống.

Tình làng nghĩa xóm đong đầy qua những mùa bông điên điển

Thuở nhỏ, tôi vẫn thường theo má Bảy đi hái bông điên điển. Khi trời còn chưa sáng hẳn, chiếc xuồng ba lá đã len lỏi giữa những triền sông còn bảng lảng sương. Hai bên bờ, điên điển cúi mình soi bóng xuống mặt nước phù sa. Má bảo phải hái lúc hoa còn ngậm sương thì cánh mới giòn, mới ngọt, đem ra chợ mới được người ta lựa. Má vừa bẻ từng chùm hoa vừa kể chuyện ngày xưa. Chuyện những mùa nước nổi kéo dài mấy tháng, nước ngập trắng đồng nhưng chẳng ai than phiền. Người quê mình từ thuở khai hoang đã mang tư duy thích ứng, coi mùa nước nổi là một phần của hệ sinh thái tự nhiên, chứ chưa bao giờ xem là thiên tai, địch họa. Người lớn bảo nhau nước về là lúc đồng ruộng được nghỉ ngơi sau những vụ mùa tất bật, để dòng phù sa từ thượng nguồn tràn vào tắm mát, tự làm sạch ruộng đồng và rửa trôi đi bao độc chất, sâu bệnh của mùa vụ trước. Cá tôm cũng theo con nước lớn mà tìm về sinh sôi. Mùa nước nổi vì thế chưa bao giờ chỉ là mùa của nước, đó là mùa của sự sống, mùa của triết lý sống thuận thiên thông minh mà bao dung. Điên điển trổ bông cũng là tín hiệu để người dân quê tôi biết rằng thiên nhiên lại mở lòng, hào phóng ban tặng những sản vật đã nuôi lớn bao thế hệ.

Ngày ấy, trên chiếc xuồng nhỏ của má Bảy lúc nào cũng có thêm chiếc rổ tre. Hái đầy một rổ điên điển, má lại chèo xuồng dọc theo những bờ cỏ đặt dớn, chờ cá linh đầu mùa mắc lưới. Cá linh vừa lớn bằng đầu đũa, mình còn ánh bạc, xương mềm và thịt ngọt. Má bảo, cá linh đầu mùa nấu với bông điên điển mới đúng vị của mùa nước nổi.

Cá linh - bông điên điển luôn nợ tình nhau, từ lâu đã trở thành biểu tượng ẩm thực, thành nỗi nhớ da diết của những người con xa xứ. Thiếu một trong hai thì bữa cơm vẫn ngon, nhưng cái hồn cốt của đồng bằng lại chưa trọn vẹn. Buổi trưa, căn bếp nhỏ vương vít khói. Mùi canh chua cá linh nấu cơm mẻ với bông điên điển, dằm thêm vài trái ớt hiểm, quyện cùng hương thơm của nồi cơm mới. Vị chua thanh của cơm mẻ hòa với vị ngọt của cá, vị nhẫn nhẹ đầy quyến rũ của bông điên điển, rau nhút tạo nên hương vị tổng hòa độc bản. Kế bên là chiếc bánh xèo đổ bằng bột gạo quê, bên trong có bông điên điển, thịt vịt và ít tép đồng, vàng ruộm trên chảo gang. Người đi đồng ghé vào, người chèo xuồng ngang qua cũng được má mời ngồi xuống ăn cùng. Chẳng ai hỏi khách quen hay lạ, chỉ cần đến đúng bữa là thêm đôi đũa và chén nước mắm, rồi câu chuyện rôm rả kéo dài đến quá trưa.

Mùa điên điển không chỉ đem đến một loài hoa, một món ăn, mà còn mang theo cả nghĩa tình xóm giềng được bồi đắp qua bao mùa nước nổi.

Trọn nghĩa cùng mùa hoa

Có lẽ vì lớn lên giữa mùa nước nổi nên người miền Tây cũng mang trong mình cái tính của con nước, nước đến đâu thì mở lòng đến đó. Cái tình của họ mộc mạc như bông điên điển, không rực rỡ để phô bày, cứ lặng lẽ qua từng việc làm, từng cách đối đãi với nhau.

Má Bảy vẫn thường nói với tôi rằng đã là lộc của trời thì không ai giữ cho riêng mình, cách sống này đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người dân quê. Có lần, chiếc xuồng của má đầy ắp những chùm điên điển còn đẫm sương. Gặp dì Năm ở cùng xóm chèo xuồng từ phía kinh nhỏ đi ra, nhìn qua cũng biết bữa ấy dì hái chẳng được bao nhiêu. Má không nói một lời, chỉ lặng lẽ bốc từng nắm bông bỏ sang chiếc rổ của dì. Dì Năm cười, lắc đầu từ chối. Má liền nói: "Thôi thì bữa nay tui trúng bông hơn bà. Chia nhau chút đỉnh, mai mốt nước lớn lại hái tiếp".

Ở quê tôi, người ta ít khi gọi đó là giúp đỡ, mà chỉ nghĩ đơn giản rằng hôm nay mình còn nhiều thì san sẻ cho người ít hơn. Nghĩa tình ấy chẳng ai ghi thành lời, nó lớn lên cùng con nước và những mùa điên điển nở vàng bên sông. Có lẽ cũng vì vậy mà mùa nước nổi chưa bao giờ chỉ là mùa mưu sinh, đó còn là mùa gặp gỡ. Những chiếc xuồng từ các con rạch nhỏ xuôi ra dòng sông lớn. Người đi giăng lưới gặp người đặt lọp, người hái bông gặp người bắt cá, họ ghé xuồng lại, hỏi thăm nhau vài câu về con nước, về sức khỏe người thân, về những đứa con đang đi làm xa...

Câu chuyện cứ nối dài theo dòng nước. Buổi trưa, ai ghé đúng bữa cơm cũng được kéo vào ngồi chung mâm, dù chỉ có nồi canh chua cá linh bông điên điển, đĩa cá lòng tong mương kho lạt với nước dừa tươi, rổ rau đồng và chén nước mắm dằm vài trái ớt hiểm. Vậy mà người ăn cảm thấy ngon, bởi trong đó có vị ngọt của tình người.

Người dân đồng bằng cùng lựa các loại cá về theo con nước

Mùa lũ bây giờ đã khác xưa

Chiều xuống. Những chiếc xuồng lần lượt về bến. Trên khoang, bông điên điển vẫn vàng tươi như vừa gom hết nắng của một ngày. Má Bảy chậm rãi buộc dây xuồng, ngước nhìn triền sông đang loang loáng ánh hoàng hôn, mỉm cười. Tôi chợt hiểu, điều làm người quê lưu luyến mỗi mùa nước nổi không chỉ là những chùm điên điển trổ bông, mà còn là mùa nghĩa tình lại nở trong lòng người.

Chính điều ấy đã dẫn tôi đến nỗi bâng khuâng khác, khi trở lại bến sông năm cũ, nơi mùa nước nổi hôm nay đã không còn vẹn nguyên như trong ký ức... Có một thời, chúng ta chưa hiểu quy luật của lũ, gồng mình làm đê bao, phục vụ cho sản xuất ba vụ, chặn đứng dòng phù sa nuôi dưỡng đất đai... Để rồi khi con người bắt đầu tỉnh thức, nhận ra giá trị của việc "sống chung với lũ”, xả đập đón phù sa thì dòng sông mẹ Mekong lại phải gánh chịu những tổn thương sâu sắc từ hệ thống đập thủy điện khổng lồ ở thượng nguồn và tác động của biến đổi khí hậu.

Quy luật tự nhiên bị đảo lộn. Mùa nước nổi trở nên trồi sụt thất thường. Nhiều năm liền xảy ra hiện tượng "đói nước", đã quá nửa mùa Thu mà lòng sông vẫn cạn, nước không thể nhảy bờ tràn đồng. Không có nước, rặng điên điển bờ đê đứng ngơ ngác dọc theo các triền sông, hoa trổ lác đác, kém sắc; con cá linh ống đầu mùa vốn là đặc sản nay cũng trở thành của hiếm.

Đứng trước bến sông năm cũ, má Bảy buông tiếng thở dài: "Mấy năm nay nước về kém quá con ơi! Nước không lên đồng thì cá mắm đâu ra, bông điên điển cũng chẳng buồn trổ rộ. Bọn trẻ trong xóm giờ kéo nhau lên TPHCM làm công nhân hết rồi. Cái bến sông này giờ chỉ còn mấy người già neo đơn, vắng tiếng hò tiếng hát lúc rạng đông...".

Tiếng thở dài của má Bảy phản ánh một thực trạng nhức nhối: Làn sóng ly hương và sự mai một của các giá trị văn hóa địa phương trước cơn lốc hội nhập và đô thị hóa. Chiều xuống chậm trên dòng sông. Má Bảy lại chống cây dầm, chiếc xuồng ba lá lặng lẽ rời bến, bóng má nhỏ dần giữa khoảng nước mênh mang. Mấy đứa trẻ trong xóm ríu rít chèo theo phía sau, tiếng cười của chúng hòa cùng tiếng mái chèo khua nhè nhẹ làm mặt nước lăn tăn những vòng sóng nhỏ. Bên bờ, vài chùm điên điển cuối mùa vẫn còn vàng rực trong nắng chiều.

Tôi chợt hiểu, điều cần giữ lại không chỉ là những triền hoa hay một mùa nước đầy như thuở trước, mà là cách người miền Tây sống với dòng sông và đối đãi với nhau bằng tất cả sự chân thành, hào sảng.

Thời gian cứ thế tiếp tục trôi, dòng Mekong sẽ có những mùa đầy, mùa cạn, nhưng nếu vẫn còn có người nhớ mùi canh chua cá linh bông điên điển trong bữa cơm quê, còn người kể cho con cháu nghe về những buổi chèo xuồng hái hoa lúc bình minh; còn những bàn tay nâng niu từng dòng nước, từng bờ đất quê hương, chuyển dịch sinh kế sang những mô hình du lịch sinh thái trải nghiệm hay trồng cây thủy sinh nương theo dòng nước, thì mùa điên điển sẽ chẳng bao giờ mất. Nó sẽ tiếp tục nở trong màu vàng ven sông, in đậm trong ký ức của những người đã đi xa và cả trong trái tim của lớp người trẻ đang chèo chiếc xuồng quê mình về phía tương lai.

Tôi ngoái nhìn lần cuối. Giữa mênh mang đầu nguồn, chiếc xuồng của má Bảy vẫn chầm chậm xuôi theo con nước. Mấy chùm bông điên điển nghiêng mình soi bóng, một cánh hoa vàng khẽ rơi xuống mặt sông, lặng lẽ trôi theo dòng Mekong như mang theo ký ức của biết bao thế hệ người miền Tây. Có những mùa hoa chỉ nở trong vài tháng, nhưng một khi đã nở trong lòng người, mùa ấy sẽ còn mãi. Đó là mùa bông điên điển, mùa của nghĩa tình, của ký ức và của hồn cốt đồng bằng.

LÂM THIÊN
















Home Icon VỀ TRANG CHỦ