Mua, bán vàng: Người dân cần làm gì để không bị xử phạt hay tịch thu ngoài ý muốn
Trong các hình thức đầu tư phổ biến hiện nay (bất động sản, chứng khoán, tiết kiệm ngân hàng…) thì vàng vẫn giữ một vị trí đặc biệt, được xem như một loại tài sản bền vững, ít biến động mạnh, có tính thanh khoản cao và an toàn cao, nhất là trong các giai đoạn tình hình kinh tế, xã hội có nhiều biến động. Ở nước ta, việc tích trữ vàng không phải là điều mới mẻ. Nhiều cá nhân và gia đình vẫn có thói quen mua vàng mỗi khi có khoản tiền nhàn rỗi hoặc vào các dịp lễ tết, cưới hỏi để vừa làm quà tặng, vừa là cách giữ của, tích lũy tài sản.
Dưới góc độ pháp lý, luật sư Nguyễn Đức Hùng - Giám đốc Công ty Luật TNHH Thiện Duyên - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội phân tích, hiện nay, Nhà nước không cấm các cá nhân, tổ chức sở hữu, tích lũy hay lưu trữ vàng. Tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/04/2012 (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 232/2025/NĐ-CP) của Chính phủ đã quy định: "Quyền sở hữu vàng hợp pháp của tổ chức, cá nhân được công nhận và bảo vệ theo quy định của pháp luật".
Đồng thời, khi bán vàng thì người dân cũng không cần phải xuất trình các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu nhưng để có thể dễ dàng chứng minh nguồn gốc, xuất xứ vàng khi cần thiết, cũng như có các chứng cứ hợp pháp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, tránh các rủi ro pháp lý thì người dân cũng nên lưu giữ các hóa đơn, chứng từ liên quan đến việc mua bán vàng.

Trong các hình thức đầu tư phổ biến hiện nay (bất động sản, chứng khoán, tiết kiệm ngân hàng,…) thì vàng vẫn giữ một vị trí đặc biệt, được xem như một loại tài sản bền vững.
Người dân cũng cần lưu ý: "Hoạt động mua, bán vàng miếng của các tổ chức, cá nhân chỉ được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng" (Điều 10 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ). Đồng thời, người dân không được sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán, vì đây là một trong những hành vi vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh vàng (Khoản 4 Điều 19 Nghị định số 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ).
Theo luật sư Hùng, các hành vi "mua, bán vàng miếng với tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp không có Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng"; hoặc "sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán" sẽ bị phạt cảnh cáo nếu vi phạm lần đầu và bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần (theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 của Chính phủ, cũng như Khoản 1 và Khoản 2 Điều 28 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 88/2019/NĐ-CP của Chính phủ) và có hiệu lực từ ngày 09/02/2026).
"Pháp luật hiện hành không quy định xử phạt hay tịch thu vàng đối với cá nhân mua bán vàng phục vụ nhu cầu tích trữ, không nhằm mục đích kinh doanh. Hình thức xử phạt tịch thu vàng chỉ được áp dụng đối với các hành vi: "Kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng" và "hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật" (theo quy định tại điểm a và c Khoản 8 và điểm a Khoản 9 Điều 24 Nghị định số 88/2019/NĐ-CP của Chính phủ (có hiệu lực từ ngày 31/12/2019)", luật sư Hùng phân tích.
Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 340/2025/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 09/02/2026, thay thế Nghị định số 88/2019/NĐ-CP của Chính phủ). Theo quy định tại Khoản 8 và Khoản 9 Điều 28 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP của Chính phủ thì các hành vi: "a) Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng nhưng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng; b) Thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật; c) Hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật." sẽ bị phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với cá nhân vi phạm, còn đối với tổ chức vi phạm thì mức phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân, tức là phạt tiền từ 600.000.000 đồng đến 800.000.000 đồng (điểm a Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP của Chính phủ), và bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu số vàng đối với các hành vi vi phạm nêu trên.
Như vậy, theo quy định trên, luật sư Hùng cho rằng, hình thức xử phạt tịch thu vàng không phải là quy định mới mà đã có từ trước, so với quy định tại Nghị định số 88/2019/NĐ-CP thì Nghị định số 340/2025/NĐ-CP chỉ mở rộng phạm vi áp dụng hình thức xử phạt này, đó là đối với hành vi "thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật".
Mặt khác, đối với hành vi mua, bán vàng miếng thì hình thức xử phạt tịch thu vàng cũng chỉ áp dụng đối với các hành vi vi phạm có tính chất kinh doanh mà không có giấy phép kinh doanh, mua bán vàng miếng theo đúng quy định của pháp luật. Có thể thấy phạm vi áp dụng hình thức xử phạt tịch thu vàng là khá hạn chế nên người dân không cần quá lo lắng. Các hoạt động mua bán vàng miếng được thực hiện tại các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép kinh doanh mua, bán vàng miếng vẫn hoàn toàn hợp pháp và không bị xử phạt.
Tuy nhiên, theo luật sư Hùng, vàng vẫn là một loại hàng hóa "đặc biệt", chịu sự quản lý chặt chẽ từ phía Nhà nước, bằng nhiều quy định và văn bản pháp lý khác nhau. Do đó, người dân khi tiến hành các hoạt động mua bán vàng cũng nên tìm hiểu và nắm rõ được các quy định pháp luật có liên quan, để có thể tránh được các rủi ro pháp lý, cũng như bảo vệ được các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nguyễn Hiền/VOV.VN
3 ngày trước
8 ngày trước
4 giờ trước
4 giờ trước
46 phút trước
2 giờ trước
1 phút trước
2 phút trước
2 phút trước
4 phút trước
21 phút trước
40 phút trước
44 phút trước
48 phút trước