Luật Đô thị đặc biệt: Phân quyền triệt để cho TP.HCM bứt phá mạnh mẽ

Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt được kỳ vọng sẽ tạo ra bước ngoặt về thể chế, mang lại bệ phóng phát triển mạnh mẽ cho TP.HCM. Điểm sáng lớn nhất của dự thảo lần này là việc nhấn mạnh nguyên tắc phân quyền “toàn diện, triệt để” nhằm tháo gỡ triệt để những điểm nghẽn của cơ chế “xin-cho”.
TS Nguyễn Thị Thiện Trí, ĐH Luật TP.HCM, kỳ vọng TP.HCM sẽ thực sự trở thành một đô thị đặc biệt với quyền chủ động tương xứng, thực sự “được quyết, được làm và được chịu trách nhiệm”.

TS Nguyễn Thị Thiện Trí, ĐH Luật TP.HCM. Ảnh: LÊ THOA
Chuyển giao toàn bộ thẩm quyền cho chính quyền đô thị
. Phóng viên: Dự thảo Luật Đô thị đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc “phân quyền triệt để, toàn diện” trên hầu hết các lĩnh vực. Theo bà, cần hiểu và hiện thực hóa khái niệm “triệt để” này như thế nào?
+ TS Nguyễn Thị Thiện Trí : Việc dự thảo luật đưa ra nguyên tắc phân quyền “toàn diện, triệt để” là tiến bộ vượt bậc so với cơ chế phân định thẩm quyền hiện nay và trước đây.
Toàn diện được hiểu là phân quyền đầy đủ trên tất cả ngành, lĩnh vực, chỉ trừ những ngành, lĩnh vực trung ương cần nắm giữ vai trò quyết định trực tiếp và trong dự thảo cũng nêu rõ.
Triệt để được hiểu là những gì đô thị đặc biệt làm được thì chuyển giao toàn bộ cho chính quyền đô thị, trung ương không giữ lại hay tham gia quyết định hoặc phê duyệt, cho phép… Tuy nhiên, những loại việc được chuyển giao phải đáp ứng tiêu chuẩn cụ thể để bảo đảm khi giao xuống địa phương, trung ương không phải can thiệp thường xuyên bằng các cơ chế hành chính.
Các tiêu chuẩn gồm loại việc phát sinh và có nhu cầu giải quyết trong phạm vi địa phương; chính quyền đô thị có nguồn lực và năng lực đủ để giải quyết; phải có cơ chế giám sát và cơ chế xác định trách nhiệm cho chính quyền đô thị minh bạch, công khai.
Xác định việc nào để chuyển giao cho chính quyền đô thị cũng cần nhìn theo sản phẩm đầu ra của ngành, lĩnh vực để bảo đảm không xé lẻ hay cắt khúc “gói” quyết định quản lý. Đồng thời, có sự chuyển giao phù hợp với từng mức độ quản lý của từng ngành, lĩnh vực, không áp dụng một mô típ chung cho các ngành và các cấp độ quyết định.
Chúng ta phải hiểu rõ không phải chuyển giao càng nhiều mới càng triệt để mà cần đề cao sự phù hợp khách quan của chính quyền đô thị, trong đó nguồn lực địa phương là then chốt.
. Dự thảo hiện nay đã có những quy định theo hướng trao quyền tự quyết cho chính quyền đô thị đặc biệt TP.HCM.
+ Đúng vậy. Một mặt, chuyển giao thẩm quyền từ trung ương xuống chính quyền đô thị đặc biệt theo hướng thẩm quyền Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chuyển giao cho HĐND, thẩm quyền Chính phủ đưa về UBND, thẩm quyền Thủ tướng đưa về chủ tịch UBND. Mặt khác, dự thảo cũng trao cho chính quyền đô thị được ban hành quy định chi tiết khác với quy định của Chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ; được ban hành cơ chế thí điểm trong trường hợp luật chưa quy định…
Quy định này về cơ bản trao quyền khá mạnh mẽ cho chính quyền đô thị so với cơ chế hiện nay nhưng một số cơ chế vẫn phải xin ý trung ương. Quyền chủ động mang tính “cơ chế” cho chính quyền đô thị có lẽ vẫn cần thêm sự mở đường của trung ương.

Luật Đô thị đặc biệt góp phần giúp TP.HCM trở thành một đô thị đặc biệt với quyền chủ động tương xứng, thực sự “được quyết, được làm và được chịu trách nhiệm”. Ảnh: THUẬN VĂN
Giải quyết 2 điểm nghẽn lớn
. Như bà đề cập, dự thảo đặt ra vấn đề rất mới là cho phép TP.HCM ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác với văn bản của cơ quan trung ương và quyết định thí điểm các mô hình kinh tế mới chưa có tiền lệ? Liệu đây có phải là chìa khóa then chốt để TP chấm dứt hoàn toàn cơ chế “xin-cho”?
+ Hai thẩm quyền trên của chính quyền đô thị giúp giải quyết được hai điểm nghẽn lớn mà hầu hết các đô thị lớn, đặc biệt là TP.HCM gặp phải.
Thẩm quyền ban hành văn bản khác với văn bản của cơ quan trung ương sẽ giải quyết được điểm nghẽn lớn nhất là thiếu quy định từ văn bản dưới luật (nghị định, thông tư) điều chỉnh kịp thời hoặc có quy định nhưng không phù hợp. Còn thẩm quyền ban hành cơ chế thí điểm sẽ giải quyết câu chuyện chưa có luật chung hoặc luật chung không đáp ứng nhu cầu của đô thị đặc biệt.
Ở thẩm quyền thứ nhất, chính quyền đô thị chỉ thực sự chủ động và xóa được điểm nghẽn thể chế tại đô thị khi khoảng trống luật để lại cho văn bản quy định chi tiết đủ lớn. Nếu khoảng trống luật để lại không đủ cho một sự khác biệt cần thiết ở đô thị thì phải sử dụng thẩm quyền thứ hai là ban hành cơ chế thí điểm. Cơ chế thí điểm này cho phép khác luôn cả luật hiện hành.
Tuy nhiên, thẩm quyền ban hành cơ chế thí điểm của chính quyền đô thị trong dự thảo vẫn chịu sự cho phép của trung ương cả giai đoạn ban hành và sau thí điểm. Do vậy, cần thêm một sự dứt khoát hơn nữa điểm này để chính quyền đô thị được chủ động nhiều hơn nữa.
Bản chất của thí điểm và quy trình xin được thí điểm cùng sự công khai kết quả thí điểm đã là một cơ chế giám sát rất hiệu quả của trung ương, việc chính quyền đô thị phải một lần nữa xin trung ương ban hành quy định chính thức thì nguy cơ “xin-cho” vẫn có thể xảy ra.

Tại dự thảo Luật Đô thị đặc biệt, trung ương đã chuyển giao quyền quyết định chủ động cho TP.HCM ở nhiều hạng mục quan trọng về kinh tế - xã hội.
Làm rõ tiêu chuẩn miễn trừ trách nhiệm để tránh “vùng trũng”
. Trao quyền lớn phải đi đôi với trách nhiệm cao. Dự thảo quy định rất rõ về trách nhiệm giải trình công khai và đặc biệt là cơ chế loại trừ, miễn trách nhiệm pháp lý cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ vì lợi ích chung, không vụ lợi.
+ Trao quyền kèm theo trách nhiệm là hai mặt thống nhất của một vấn đề, trao quyền càng rõ ràng, minh bạch thì việc xác định trách nhiệm càng chặt chẽ. Thực ra phần lớn cán bộ, công chức không sợ trách nhiệm mà điều đáng lo là sự thiếu minh bạch trong xác định trách nhiệm. Và mấu chốt của vấn đề nằm ở chỗ câu trả lời “việc này thuộc thẩm quyền quyết định của ai” thì không rõ. Do đó, phân định thẩm quyền càng đâu ra đó sẽ là tiền đề cho câu chuyện kiểm soát quyền lực chính quyền đô thị.
Theo dự thảo, kiểm soát quyền lực đô thị được thực hiện bằng nhiều cơ chế. Trong đó, luật xác định từng cơ quan, chức danh trong chính quyền đô thị được làm gì và không được làm gì chính là mô hình kiểm soát của trung ương đối với địa phương. Ngoài ra còn có cơ chế phê chuẩn, xin phép trung ương; cơ chế báo cáo, giải trình; kiểm tra, thanh tra; cơ chế giám sát của HĐND, các tổ chức xã hội; cơ chế khiếu nại, tố cáo và giải quyết vụ án hành chính của TAND theo quy định chung…
Tôi cho rằng cơ chế thì nhiều nhưng hiệu quả lại nằm ở tính thực chất của cơ chế. Dự thảo vẫn chỉ sử dụng các cơ chế kiểm soát truyền thống, chưa có sự xuất hiện của cơ chế kiểm soát đặc trưng của chính quyền đô thị, đó là phát huy quyền kiểm soát trực tiếp của người thông qua cơ chế bầu trực tiếp người đứng đầu chính quyền các cấp hoặc trưng cầu ý dân.
Với Luật Đô thị đặc biệt, lần đầu tiên trung ương chuyển giao quyền quyết định chủ động cho địa phương ở nhiều hạng mục quan trọng về kinh tế - xã hội. Do vậy, việc áp dụng một số cơ chế miễn trừ trách nhiệm là hợp lý nhằm khuyến khích và tạo sự an tâm trong việc đưa ra các quyết định quan trọng.
Tuy nhiên, điều cần làm rõ mà cũng chính là “khoảng trống” mà nếu không có quy định chi tiết và cơ chế xác định rõ ràng, minh bạch thì sẽ có nguy cơ trở thành “vùng trũng”. Đó chính là việc xác định các tiêu chuẩn khá định tính để được miễn trừ trách nhiệm, như không vụ lợi, có động cơ mục đích vì sự phát triển chung của đô thị đặc biệt…
Suy cho cùng, điều quan trọng và giữ vai trò quyết định sự phát triển của một đô thị đặc biệt không chỉ là thể chế đặc biệt mà phải có những “con người đặc biệt”. Đặc biệt ở đây chính là tinh thần của sự chủ động, dám quyết, dám hành động, dám chịu trách nhiệm và đặc biệt là phải có tình yêu và sự gắn bó với đô thị.
. Xin cảm ơn bà.
*****
LÊ THOA thực hiện
1 giờ trước
22 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
2 ngày trước
4 ngày trước