🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Luật Bưu chính (sửa đổi): Chuyển từ dàn trải sang quản lý theo rủi ro

12 phút trước
Ngày 18/8, tại Hà Nội, Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội nghị truyền thông chính sách đối với dự án Luật Bưu chính (sửa đổi), tập trung trao đổi về những thay đổi của thị trường và các chính sách mới trong dự thảo.

Thị trường bưu chính tăng tốc, luật cần theo kịp

Phát biểu tại hội nghị, bà Nguyễn Thị Thu Trang, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Khoa học và Công nghệ, cho biết truyền thông chính sách giúp cơ quan soạn thảo tiếp nhận ý kiến từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp, chuyên gia và các đối tượng chịu tác động, qua đó hoàn thiện dự thảo theo hướng khả thi, tạo đồng thuận.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu khai mạc hội nghị. (Ảnh: PV)

Theo ông Lã Hoàng Trung, Vụ trưởng Vụ Bưu chính, thị trường hiện đã thay đổi mạnh so với thời điểm ban hành Luật Bưu chính năm 2010. Năm 2025, sản lượng đạt khoảng 4,1 tỷ bưu gửi, hơn 12 lần năm 2010; doanh thu khoảng 87.000 tỷ đồng, trong đó trên 90% sản lượng là gói, kiện hàng hóa.

6 tháng đầu năm 2026, thị trường có khoảng 765 doanh nghiệp, doanh thu 52.200 tỷ đồng và 2,5 tỷ bưu gửi, tăng 35%. Trước quy mô giao dịch ngày càng lớn và số hóa, ông Trung cho rằng quản lý bưu chính cần chuyển từ “cấp phép, tiền kiểm” sang “đăng ký, công khai, hậu kiểm”, từ kiểm tra đồng loạt sang quản lý bằng dữ liệu và rủi ro.

Dự thảo Luật gồm 8 chương, 51 điều, trong đó có các quy định về bưu chính số, định danh, truy vết bưu gửi và bảo đảm an toàn, an ninh. Một trong những vấn đề được ông Lã Hoàng Trung lưu ý là cần phân biệt rõ hàng cấm và hàng nguy hiểm trong hoạt động bưu chính. Theo ông, hàng cấm gắn với tính hợp pháp của hàng hóa hoặc hành vi. Khi pháp luật cấm lưu thông, tàng trữ, vận chuyển hoặc cấm thực hiện hành vi liên quan thì doanh nghiệp không được chấp nhận bưu gửi thuộc trường hợp bị cấm.

Trong khi đó, hàng nguy hiểm được xác định dựa trên đặc tính có thể gây nguy cơ đối với con người, phương tiện, công trình hoặc môi trường trong quá trình vận chuyển. Một số loại hàng nguy hiểm vẫn có thể được vận chuyển nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện an toàn theo quy định pháp luật chuyên ngành. “Có thể hiểu đơn giản, hàng nguy hiểm không đồng nghĩa với hàng cấm. Vấn đề là phải xác định đúng loại hàng và đáp ứng đúng điều kiện vận chuyển đối với từng loại”, ông Trung cho hay.

Theo hệ thống phân loại của Liên hợp quốc, hàng nguy hiểm được chia thành 9 nhóm theo loại nguy cơ, gồm chất nổ; chất khí; chất lỏng dễ cháy; chất rắn dễ cháy; chất ôxy hóa và peroxide hữu cơ; chất độc và chất lây nhiễm; vật liệu phóng xạ; chất ăn mòn và nhóm nguy hiểm khác, trong đó có pin lithium.

Ông Trung lưu ý, Class 1-9 là cách phân loại theo loại nguy cơ, không phải thứ tự mức độ nguy hiểm. Trong thực tế, một bưu gửi có thể đi qua nhiều chặng, thậm chí nhiều phương thức vận tải. Do đó, bên cạnh pháp luật bưu chính, doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định chuyên ngành tương ứng với phương thức vận chuyển. Định danh, truy vết, quản lý bằng dữ liệu để kiểm soát đúng đối tượng, đúng mức độ và đúng thời điểm

Định danh, truy vết, quản lý bằng dữ liệu để kiểm soát đúng đối tượng

Sự phát triển của thương mại điện tử cũng làm gia tăng các giao dịch không đối mặt. Người gửi có thể tạo đơn qua ứng dụng, điểm tự động hoặc thông qua nhiều chủ thể trung gian, khiến việc xác thực thông tin trở nên khó khăn hơn. Theo ông Trung, một số trường hợp thông tin người gửi thiếu, không chính xác hoặc có dấu hiệu giả mạo. Đối tượng vi phạm có thể chia nhỏ hàng hóa, thay đổi thông tin hoặc tuyến vận chuyển nhằm giảm khả năng bị phát hiện.

Ông Lã Hoàng Trung, Vụ trưởng Vụ Bưu chính, Bộ KHCN chia sẻ về Dự án Luật Bưu chính (sửa đổi) tại hội nghị. (Ảnh: PV)

Các thủ đoạn thường gặp là ngụy trang hàng hóa trong thực phẩm, bánh kẹo, trà, cà phê, mỹ phẩm hoặc các vật dụng thông thường; giấu trong đồ điện tử, đồ chơi hoặc tận dụng khoang rỗng bên trong vật dụng.

Các đối tượng cũng có thể chia nhỏ hàng thành nhiều kiện, gửi tại nhiều điểm khác nhau; thuê người khác đứng tên hoặc sử dụng tên, địa chỉ, số điện thoại khó kiểm chứng. Việc thay đổi người nhận, địa điểm nhận hoặc hành trình cũng có thể được sử dụng để che giấu tung tích.

Tuy nhiên, ông Trung nhấn mạnh, một dấu hiệu đơn lẻ không thể là căn cứ để kết luận một bưu gửi vi phạm pháp luật. “Các dấu hiệu này chỉ là đầu vào để đánh giá rủi ro. Cần xem xét tổng thể thông tin người gửi, đặc điểm bưu gửi, lịch sử giao dịch, hành trình và các dấu hiệu bất thường khác”, ông nói.

Theo Vụ trưởng Vụ Bưu chính, trong quá trình tiếp nhận bưu gửi, có thể nhận diện rủi ro qua 6 nhóm dấu hiệu. Đó là biểu hiện của người gửi như thái độ lo lắng, vội vàng, né tránh camera hoặc trả lời không nhất quán; thông tin tên, địa chỉ, số điện thoại không đầy đủ hoặc khó kiểm chứng; đặc điểm kiện hàng như đóng gói quá mức, khai báo không tương xứng với trọng lượng, hình dạng.

Bên cạnh đó là các dấu hiệu vật lý như rò rỉ, phát nhiệt, rung, phát tiếng động, mùi hóa chất; lịch sử gửi, nhận, COD, thời điểm giao dịch hoặc sự thay đổi bất thường trong hành vi; các yếu tố liên quan đến tuyến vận chuyển, người nhận, cảnh báo của cơ quan chức năng và sự kết hợp của nhiều dấu hiệu.

“Nguyên tắc xử lý là bình tĩnh, an toàn, đúng thẩm quyền và đúng pháp luật. Khi xuất hiện dấu hiệu nghi vấn, doanh nghiệp cần chuyển từ phán đoán sang quy trình: phát hiện, đánh giá, áp dụng biện pháp phù hợp và phối hợp xử lý”, ông Trung nhấn mạnh.

Đặc biệt, với bưu gửi có dấu hiệu nguy hiểm như rò rỉ hóa chất, phát nhiệt, mùi bất thường hoặc nguy cơ cháy nổ, ưu tiên trước hết là an toàn con người và khu vực khai thác. Nhân viên không được tự ý thực hiện những thao tác có thể làm tăng nguy cơ, đồng thời phải báo cáo đầu mối quản lý và phối hợp cơ quan có thẩm quyền.

Đối với vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật, dữ liệu nghiệp vụ như thông tin người gửi, lịch sử giao dịch, hành trình bưu gửi, hình ảnh camera và các thông tin liên quan cần được bảo toàn để phục vụ xác minh, truy vết.

Theo ông Trung, Luật Bưu chính năm 2010 đã tạo nền tảng cho việc kiểm soát hàng cấm, hàng nguy hiểm, điều kiện chấp nhận bưu gửi cũng như trách nhiệm bảo đảm an toàn, an ninh.

Tuy nhiên, sau hơn 15 năm, quy mô và phương thức hoạt động của thị trường đã thay đổi căn bản. Sản lượng bưu gửi thương mại điện tử rất lớn, giao dịch từ xa, nhiều chủ thể tham gia, dữ liệu và hành trình bưu gửi ngày càng phức tạp. “Trong bối cảnh đó, kiểm tra thủ công đại trà là không khả thi. Chúng ta phải có công cụ quản lý mới”, ông Trung nói. Đáng chú ý, Điều 40 dự thảo quy định mỗi bưu gửi được gắn một mã nhận dạng duy nhất trong phạm vi hệ thống của doanh nghiệp bưu chính từ thời điểm chấp nhận và được duy trì liên tục trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. “Mã định danh là xương sống dữ liệu để liên kết bưu gửi với hành trình nghiệp vụ, phục vụ theo dõi, quản lý và truy vết khi xảy ra sự cố hoặc có dấu hiệu vi phạm”, ông Trung phân tích.

Điều 41 dự thảo tiếp tục yêu cầu bảo đảm an toàn bưu gửi từ khi chấp nhận đến khi phát, không để mất, thất lạc, hư hỏng hoặc bị xâm phạm trái pháp luật. Trong khi đó, Điều 42 yêu cầu doanh nghiệp áp dụng biện pháp phù hợp với mức độ rủi ro và quy mô hoạt động để phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm về an ninh. “Không phải cứ có rủi ro là áp dụng ngay biện pháp mạnh nhất. Biện pháp phải tương xứng với mức độ rủi ro, đúng căn cứ pháp lý, đúng thẩm quyền và trong phạm vi cần thiết”, ông Trung nhấn mạnh.

Không kiểm tra nhiều hơn, mà kiểm soát đúng hơn

Một nội dung quan trọng khác là cơ chế quản lý thông tin người gửi và phân loại bưu gửi theo mức độ rủi ro. Theo Điều 43 dự thảo, doanh nghiệp có trách nhiệm thu thập, lưu trữ thông tin người gửi phù hợp với pháp luật về dữ liệu, bảo đảm có thông tin liên hệ hợp lệ để nhận diện, liên hệ và phục vụ truy vết.

Bưu gửi được đánh giá dựa trên một hoặc một số tiêu chí như thông tin người gửi, đặc điểm bưu gửi, hành trình vận chuyển và các dấu hiệu bất thường liên quan đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: PV)

Theo định hướng dự thảo Nghị định quy định chi tiết, bưu gửi có thể được phân loại theo mức rủi ro thấp, trung bình và cao. Với rủi ro thấp, doanh nghiệp chủ yếu kiểm tra thông tin khai báo và quản lý thông qua hệ thống thông tin, biện pháp kỹ thuật phù hợp. Với rủi ro trung bình, doanh nghiệp có thể yêu cầu bổ sung thông tin, tăng cường theo dõi, kiểm soát kỹ thuật và kiểm tra trực quan bên ngoài khi cần.

Với rủi ro cao, như trường hợp không cung cấp thông tin, có dấu hiệu giả mạo, nghi vấn chứa hàng vi phạm hoặc thuộc cảnh báo của cơ quan có thẩm quyền, doanh nghiệp có thể xác thực thông tin và áp dụng biện pháp cần thiết, trong đó có thể tạm dừng chấp nhận, vận chuyển hoặc phát khi có căn cứ.

“Cách tiếp cận này nhằm tránh hai cực: kiểm tra, xác thực đại trà gây tăng chi phí và cản trở dịch vụ; hoặc kiểm soát quá lỏng dẫn đến bỏ lọt rủi ro. Mục tiêu là kiểm soát đúng đối tượng, đúng mức độ và đúng thời điểm”, ông Trung nói.

Theo ông Trung, doanh nghiệp bưu chính cần chủ động rà soát quy trình chấp nhận, xử lý tình huống rủi ro và phân định rõ trách nhiệm ở từng khâu. Đồng thời, doanh nghiệp cần chuẩn hóa thông tin người gửi, bảo đảm khả năng liên kết thông tin người gửi với mã bưu gửi, hành trình và trạng thái xử lý; đánh giá khả năng hệ thống công nghệ thông tin trong phân loại rủi ro, cảnh báo bất thường và truy vết toàn trình.

Việc lưu trữ, bảo vệ, khai thác và cung cấp dữ liệu cũng phải bảo đảm đúng mục đích, phạm vi, thời hạn và đối tượng. “Nhân viên cần được đào tạo để nhận diện dấu hiệu bất thường nhưng không suy diễn hay kết luận vi phạm chỉ từ một dấu hiệu đơn lẻ. Quan trọng là phải có quy trình rõ ràng để biết khi nào cần xác minh, khi nào tăng cường kiểm soát và khi nào phải báo cơ quan chức năng”, ông Trung cho hay.

Theo ông Trung, trong quá trình hoàn thiện dự thảo, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng cần tiếp tục lắng nghe ý kiến doanh nghiệp về khả năng lượng hóa tiêu chí rủi ro, mức độ sẵn sàng của hệ thống dữ liệu, phương thức xác thực người gửi, chi phí nâng cấp hệ thống, lưu trữ dữ liệu, đào tạo nhân sự và cơ chế phối hợp với cơ quan nhà nước. “Bảo đảm an toàn, an ninh bưu chính trong môi trường số không thể chỉ dựa vào việc kiểm tra từng bưu gửi. Chúng ta cần kết hợp nhận diện đúng chủ thể và bưu gửi, duy trì dữ liệu để truy vết xuyên suốt hành trình và phân loại rủi ro để áp dụng biện pháp kiểm soát tương xứng”, ông Trung nhấn mạnh.

Như vậy, mục tiêu của Dự án Luật Bưu chính (sửa đổi) không phải là kiểm tra nhiều hơn một cách dàn trải, mà là kiểm soát đúng đối tượng, đúng mức độ và đúng thời điểm. Cách tiếp cận này vừa tăng khả năng phòng ngừa, phát hiện vi phạm, vừa hạn chế chi phí tuân thủ không cần thiết, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ, đồng thời phù hợp với yêu cầu bảo vệ dữ liệu trong môi trường số.

Từ “kiểm tra dàn trải” sang quản lý theo rủi ro vì thế được kỳ vọng tạo nền tảng cho phương thức quản lý bưu chính hiện đại hơn, trong đó dữ liệu giúp nhận diện, mã định danh giúp truy vết và mức độ rủi ro quyết định biện pháp kiểm soát.

Tại hội nghị, Bộ KHCN đề nghị doanh nghiệp đóng góp ý kiến về khả năng lượng hóa tiêu chí rủi ro, mức độ sẵn sàng của hệ thống dữ liệu, trường hợp nào cần xác thực người gửi, chi phí tuân thủ và cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu với cơ quan chức năng.

Nguyệt Thương

TIN LIÊN QUAN

























Home Icon VỀ TRANG CHỦ