🔍
Chuyên mục: Pháp luật

Lừa đảo dưới chiêu xác thực thông tin thuê bao di động

1 giờ trước
Lợi dụng quy định mới về xác thực thông tin thuê bao di động, nhiều đối tượng đã giả danh cơ quan chức năng, nhà mạng để chiếm quyền kiểm soát SIM, từ đó đánh cắp mã OTP và rút tiền trong tài khoản ngân hàng. Thủ đoạn ngày càng tinh vi, có tổ chức, gây thiệt hại lớn cho người dân.
00:00
00:00

Người dân chỉ nên thực hiện qua VNeID, ứng dụng chính thức của nhà mạng hoặc điểm giao dịch hợp pháp để được hỗ trợ chuẩn hóa thông tin thuê bao di động; tuyệt đối không cung cấp OTP, mật khẩu, ảnh khuôn mặt hay bấm vào đường link lạ. (Ảnh ĐOÀN THỦY)

Thủ đoạn tinh vi

Thời gian gần đây, cùng với việc triển khai quy định về xác thực thông tin thuê bao di động theo Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN, các đối tượng lừa đảo đã nhanh chóng lợi dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Chúng thường giả danh nhân viên nhà mạng hoặc cán bộ quản lý viễn thông, gọi điện trực tiếp hoặc gửi tin nhắn thông báo thuê bao của người dân “chưa xác thực chính chủ”, “chưa đồng bộ với dữ liệu dân cư” hoặc “sẽ bị khóa trong thời gian ngắn nếu không cập nhật”.

Để tạo sự tin tưởng, các đối tượng sử dụng giọng điệu chuyên nghiệp, kịch bản bài bản, thậm chí đọc đúng một phần thông tin cá nhân của nạn nhân. Một số trường hợp còn gửi kèm đường link giả mạo hoặc yêu cầu truy cập vào các website, ứng dụng có giao diện giống hệ thống chính thức.

Sau khi nạn nhân tin tưởng, chúng tiếp tục hướng dẫn thực hiện các thao tác như cung cấp mã OTP, chụp ảnh Căn cước công dân, xác minh khuôn mặt hoặc cài đặt ứng dụng giả mạo. Tinh vi hơn, các đối tượng còn yêu cầu bấm mã USSD, chuyển hướng cuộc gọi, đăng ký eSIM hoặc “cập nhật lại chủ thuê bao”. Khi thực hiện các thao tác này, quyền kiểm soát số điện thoại có thể bị chuyển sang đối tượng lừa đảo mà người dùng không hề hay biết.

Khi đã chiếm quyền sử dụng SIM, đối tượng nhanh chóng sử dụng chức năng “quên mật khẩu” để truy cập vào tài khoản ngân hàng, ví điện tử, email hoặc mạng xã hội của nạn nhân. Do toàn bộ mã xác thực OTP được gửi về số điện thoại đã bị kiểm soát, chúng dễ dàng thay đổi mật khẩu, đăng nhập và thực hiện các giao dịch rút tiền.

Nhiều nạn nhân chỉ phát hiện khi điện thoại mất sóng, không nhận được cuộc gọi hoặc tài khoản ngân hàng phát sinh giao dịch bất thường. Lúc này, thiệt hại đã xảy ra, việc khôi phục lại tài khoản và truy vết đối tượng gặp nhiều khó khăn.

Nguy cơ đối mặt hình phạt nghiêm khắc

Hành vi giả danh cơ quan, tổ chức, sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản thông qua việc chiếm quyền SIM, đánh cắp mã OTP và truy cập trái phép tài khoản của người khác có dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật hình sự.

Cụ thể, theo Điều 174 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định như sau: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp luật định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Khung hình phạt được áp dụng tùy theo giá trị tài sản và mức độ vi phạm. Theo đó, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm đối với hành vi cơ bản; phạt tù từ 2 năm đến 7 năm nếu có các tình tiết tăng nặng như phạm tội có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp; phạt tù từ 7 năm đến 15 năm hoặc từ 12 năm đến 20 năm, thậm chí tù chung thân nếu chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.

Đáng chú ý, trong các vụ lừa đảo qua công nghệ cao, hành vi thường được xác định là có tổ chức, sử dụng phương tiện điện tử để phạm tội, do đó thuộc trường hợp tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bên cạnh đó, hành vi sử dụng mạng viễn thông, thiết bị điện tử để chiếm đoạt tài sản còn có thể bị xử lý theo Điều 290 Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm, và ở khung cao nhất có thể lên đến 20 năm tù nếu chiếm đoạt tài sản giá trị lớn hoặc gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự.

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; cấm đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong thời hạn nhất định.

Từ các quy định trên có thể thấy, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua công nghệ cao không chỉ bị xử lý nghiêm mà còn có thể đối mặt với mức hình phạt rất nặng.

Do đó, người dân cần nâng cao cảnh giác, tuyệt đối không cung cấp mã OTP, thông tin cá nhân, không thực hiện các thao tác theo hướng dẫn từ cuộc gọi, tin nhắn lạ; đồng thời chủ động liên hệ cơ quan Công an, ngân hàng hoặc nhà mạng khi phát hiện dấu hiệu bất thường để hạn chế thiệt hại.

(Bài viết có sự phối hợp cung cấp dữ liệu và thông tin pháp lý từ LuatVietnam.vn trong khuôn khổ chuyên mục Phòng, chống tội phạm công nghệ cao)

Linh Hoàng, Quý Huy

TIN LIÊN QUAN


























Home Icon VỀ TRANG CHỦ