'Lấp khoảng trống' trong điều trị ung thư buồng trứng
Hưởng ứng Ngày Ung thư buồng trứng thế giới, Bệnh viện K và AstraZeneca Việt Nam vừa phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học “Củng cố bằng chứng sống còn trong điều trị ung thư buồng trứng tiến triển: Vai trò của thuốc ức chế PARP từ dữ liệu đến thực tế”.
Tại hội thảo, các chuyên gia đã tập trung vào các cập nhật trong chẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng, đặc biệt là các chiến lược điều trị cá thể hóa và điều trị duy trì nhằm cải thiện kết quả lâu dài cho người bệnh. Bên cạnh đó, thông qua các phiên trao đổi ca lâm sàng, các chuyên gia đã cùng thảo luận về các tình huống điều trị thực tế và kinh nghiệm thực hành trong quản lý người bệnh tại Việt Nam.

AstraZeneca Việt Nam phối hợp cùng Bệnh viện K tổ chức hội thảo khoa học hưởng ứng Ngày Ung thư Buồng trứng thế giới.
Ung thư buồng trứng (UTBT) là một trong những bệnh ung thư phụ khoa phổ biến, thường gặp ở phụ nữ trong độ tuổi từ 50 đến 65, và là loại ung thư đường sinh dục có tỷ lệ tử vong cao thứ hai sau ung thư cổ tử cung.
Theo số liệu từ GLOBOCAN, trong năm 2022 Việt Nam ghi nhận khoảng 1.500 ca mắc mới và khoảng 1.000 ca tử vong do ung thư buồng trứng. Nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được rõ ràng. Rất nhiều nghiên cứu tìm hiểu mối liên quan giữa bệnh và các yếu tố môi trường, chế độ ăn, sinh sản, nội tiết, virus và di truyền, trong đó yếu tố gia đình đã được xác nhận, khoảng 7% UTBT có mang tính chất gia đình. Những phụ nữ có mẹ và chị em gái mắc bệnh này có nguy cơ mắc tăng gấp 20 lần cộng đồng. Tiền sử gia đình (chủ yếu là ở người bệnh có từ 2 người thân trực hệ bị ung thư buồng trứng) liên quan tới gen BRCA1 và BRCA2 (hội chứng ung thư vú và buồng trứng di truyền [HBOC]). Người bệnh UTBT có đột biến BRCA1/2 chiếm khoảng 15% (dao động từ 7%–21%) tổng số người bệnh UTBT. Tuổi cao cũng là một yếu tố nguy cơ vì tỷ lệ mắc ung thư biểu mô buồng trứng tăng dần theo số lần rụng trứng. Những người có thai trước 25 tuổi, mãn kinh sớm cũng liên quan đến giảm tỷ lệ mắc UTBT.
BSCKII. Võ Thanh Nhân, Trưởng khoa Ung bướu phụ khoa, Bệnh viện Từ Dũ chia sẻ: “Một trong những thách thức lớn nhất của ung thư buồng trứng là bệnh thường diễn tiến âm thầm với các triệu chứng ban đầu không đặc hiệu, dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn tiêu hóa thông thường. Điều này khiến nhiều bệnh nhân chỉ được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn tiến triển. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức về các dấu hiệu cảnh báo và chủ động thăm khám sớm đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.”
Theo các số liệu dịch tễ học, tỷ lệ sống còn sau 5 năm của người bệnh ung thư buồng trứng phụ thuộc nhiều vào giai đoạn phát hiện, với khoảng 90,5% ở giai đoạn sớm nhưng giảm xuống còn 30,2% ở giai đoạn muộn. Nếu không áp dụng điều trị duy trì, hơn 50% người bệnh ung thư buồng trứng tiến triển có đặc điểm HRD (thiếu hụt tái tổ hợp tương đồng) dương tính có thể tái phát trong vòng 1 năm, với thời gian tái phát trung bình khoảng 10,2 tháng. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có dưới 40% người bệnh được xét nghiệm HRD toàn diện (theo nghiên cứu đời thực tại Mỹ), trong khi việc xác định dấu ấn sinh học của khối u đóng vai trò then chốt trong việc lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp và tối ưu hóa kết quả lâu dài.
Trong bối cảnh đó, những tiến bộ trong hơn hai thập kỷ qua, từ việc thiết lập nền tảng hóa trị chuẩn đến sự phát triển của các liệu pháp nhắm trúng đích sinh học phân tử đặc hiệu với chiến lược điều trị duy trì sau đáp ứng ban đầu, đang từng bước định hình lại tiêu chuẩn điều trị mới. Những tiến bộ này giúp kéo dài thời gian sống không tiến triển bệnh nhiều năm, hướng tới mục tiêu kiểm soát bệnh lâu dài thay vì chỉ điều trị ngắn hạn.
Tại hội thảo, PGS.TS.BS Phùng Thị Huyền, Trưởng khoa Nội vú , Phụ khoa 2, Bệnh viện K chia sẻ: “Phần lớn bệnh nhân ung thư buồng trứng được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển, điều này đặt ra thách thức lớn trong việc cải thiện kết quả điều trị lâu dài. Vì vậy, bên cạnh điều trị ban đầu, việc xây dựng các chiến lược kiểm soát bệnh bền vững, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong thực hành lâm sàng".

Bác sĩ chia sẻ tại Hội thảo.
Tại Việt Nam, AstraZeneca đã và đang không ngừng thúc đẩy giải pháp toàn diện trong quản lý ung thư buồng trứng từ chẩn đoán chính xác, cá thể hóa điều trị và tư vấn di truyền. Công ty đã phối hợp cùng các hiệp hội chuyên ngành như Hội Phụ sản Việt Nam (VAGO), Hội Ung thư Việt Nam (VCA), cập nhật hướng dẫn chuyên môn, cũng như triển khai các chương trình đào tạo, hội thảo khoa học, góp phần nâng cao năng lực chẩn đoán và điều trị cho đội ngũ nhân viên y tế. Song song với đó, AstraZeneca Việt Nam còn hỗ trợ mở rộng tiếp cận các xét nghiệm sinh học phân tử và tư vấn di truyền đến nhiều bệnh viện trên cả nước, từ đó tạo nền tảng giúp các chuyên viên y tế tư vấn phác đồ điều trị hiệu quả và phù hợp cho người bệnh.
Trong thời gian tới, AstraZeneca sẽ tiếp tục thúc đẩy hợp tác nhằm góp phần nâng cao chất lượng quản lý bệnh ung thư buồng trứng tại Việt Nam. Những nỗ lực này kỳ vọng sẽ từng bước cải thiện khả năng tiếp cận các tiến bộ y học, đồng thời hỗ trợ người bệnh trong quá trình điều trị và chăm sóc lâu dài.
PV
49 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
2 giờ trước