🔍
Chuyên mục: Thế giới

Ký ức về một cuộc trao trả tù dân sự ở sân bay Lộc Ninh

1 giờ trước
Từ đầu năm 1973, tôi công tác ở thị trấn Lộc Ninh, là vùng giải phóng của Chính phủ Cách mạng lâm thời, và là nơi ta tổ chức nhiều đợt trao trả tù quân sự và tù dân sự của các bên, theo quy định của Hiệp định Paris. Hơn 15.000 tù quân sự và tù dân sự của ta đã được trao trả tại đây.
00:00
00:00

Chị Võ Thị Thắng (thứ nhất, từ phải sang) và các bạn tù tại sân bay Lộc Ninh - Ảnh tư liệu lưu trữ của Ban Liên lạc CCB LHQS - Trại Davis

Tôi được tham gia nhiều đợt trao trả, với vai trò là sĩ quan phiên dịch hỗ trợ các đại diện của Chính phủ Cách mạng lâm thời, Ủy ban Quốc tế và Ban liên hợp quân sự trong các cuộc đàm phán, thảo luận về việc tổ chức các hoạt động trao trả.

Tôi có nhiều trải nghiệm không thể nào quên về các hoạt động trao trả, đặc biệt là kỷ niệm đầy xúc động về đợt trao trả tù dân sự1 ngày 7/3/1974 trên sân bay dã chiến Lộc Ninh, trong đó phía Sài Gòn trả cho ta 25 tù dân sự. Tình cờ, đây là đợt trao trả cuối cùng, bởi sau đó chính quyền Sài Gòn đã đơn phương chấm dứt việc trao trả tù dân sự cho ta, mặc dù họ còn giam giữ hàng chục nghìn tù dân sự của ta trong các nhà tù hà khắc, tàn bạo của họ trên khắp miền Nam.

Vào đầu năm 1974, cuộc đấu tranh thi hành Hiệp định Paris đã gần như đi vào ngõ cụt. Mỹ đã hoàn thành hai mục tiêu thiết thân của họ là hồi hương tất cả tù binh Mỹ và rút hết quân Mỹ về nước trong an toàn. Do đó, Mỹ phó mặc việc trao trả tù dân sự cho hai bên miền Nam tự dàn xếp, đấu tranh thông qua Ban liên hợp quân sự 2 bên. Thậm chí, ông Henry Kissinger, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ, đã bàn với Tổng thống Nixon lấy tù chính trị của Cộng sản làm "bảo bối" để mặc cả việc miền Bắc rút quân khỏi miền Nam2. Tệ hơn nữa, chính ông Kissinger đã mách nước cho chính quyền Sài Gòn không thả tù chính trị của Cộng sản mà sử dụng họ làm "con bài tẩy" để mặc cả với Hà Nội về việc rút quân miền Bắc khỏi miền Nam3.

Cũng nên nhắc lại rằng, trong các cuộc đàm phán bí mật với ông Lê Đức Thọ, ông Kissinger đã hứa "Mỹ sẽ dùng ảnh hưởng tối đa của mình để làm cho số lớn tù dân sự bị giam giữ ở miền Nam được trao trả trong vòng 30 ngày, và số còn lại được trao trả hết trong 90 ngày". Lời hứa "ngọt ngào" của Kissinger đã được đưa vào bản Hiểu biết - Understanding về trao trả tù dân sự đính kèm với Hiệp định Paris như một bằng chứng về thiện chí, hay một kiểu "thỏa thuận quân tử" của Mỹ. Nhưng, trên thực tế, không có thiện chí nào được Mỹ tôn trọng, cũng không có "thỏa thuận quân tử" nào được họ thực thi.

Trong khi đó, chính quyền Sài Gòn sợ "thả tù chính trị Cộng sản chả khác gì thả hổ về rừng", như Tổng thống Thiệu từng công khai tuyên bố. Do đó, họ sử dụng thủ đoạn nham hiểm kết án tù chính trị là tù thường phạm để lẩn tránh việc trả tù dân sự cho ta. Đây không phải là "luận điệu tuyên truyền của Cộng sản", mà là lời thú nhận của Ellsworth Bunker, Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn lúc đó. Trong bức điện gửi từ Washington sang Sài Gòn cho Phó Đại sứ Whitehouse, Bunker phàn nàn rằng Chính quyền Sài Gòn đã "không thành thật với chúng ta về vấn đề tù chính trị" và kết luận: "Việc họ kết án tù chính trị là tù thường phạm rõ ràng đi ngược lại các quy định của Hiệp định Paris"4.

Đợt trao trả 25 tù dân sự của ta (trong đó có chị Võ Thị Thắng) đã diễn ra trong bối cảnh phức tạp như trên. Đại diện của ta trong Ban liên hợp quân sự 2 bên yêu cầu được đi thăm nơi giam giữ cuối cùng của nhóm tù dân sự 25 người theo Điều 9(b) của Nghị định thư về trao trả và đòi trao trả đích danh chị Võ Thị Thắng cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Phía Sài Gòn làm ngơ yêu cầu đi thăm nơi giam giữ cuối cùng và cãi bừa rằng chị Thắng là "tù thường phạm". Đại diện của ta đã trưng ra các bằng chứng rành rành, trong đó có tấm ảnh chụp chị trước tòa án binh và các bài viết của báo chí Sài Gòn năm 1968 cho thấy chị bị kết án là tù chính trị, cùng lời tuyên bố đanh thép của chị: "Liệu chế độ này còn tồn tại được bao lâu nữa mà đòi giam tôi đến 20 năm?".

Trước những bằng chứng không thể chối cãi và sự đấu tranh kiên quyết của ta, phía Sài Gòn không thể lẩn tránh, và cuối cùng, buộc phải đưa chị Thắng vào kế hoạch trao trả. Trong bản danh sách được hai bên thỏa thuận, tên chị Thắng ở vị trí thứ ba trong số 25 tù dân sự được trao trả ngày 7/3/1974 ở sân bay Lộc Ninh.

Trong ngày tổ chức trao trả, anh em trong tổ tiếp nhận của ta mang theo một tờ nhật báo Sài Gòn có ảnh chị Võ Thị Thắng đứng hiên ngang trước tòa án Sài Gòn để nhận mặt chị. Trung tá Nguyễn Thế Thứ, Tổ trưởng Trao trả của phía Sài Gòn, đọc tên từng người trong bản danh sách các tù dân sự được trao trả hôm đó, đại diện của ta - Trung tá Phan Cẩn cầm một bản danh sách tương tự để kiểm tra thông tin kỹ càng, trước khi người tù bước từ cầu thang máy bay trực thăng xuống và đi về phía tổ tiếp nhận của ta. Sau khi ta tiếp nhận được hai người tù đầu tiên, Trung tá Thứ bất ngờ tuyên bố dừng cuộc trao trả. Y tuyên bố vu vơ: "Quân của quý vị vừa bắn một chiếc máy bay trực thăng phục vụ trao trả ở Lộc Ninh đang trên đường bay trở về Biên Hòa, làm một nhân viên phi hành của chúng tôi bị tử vong!".

Rõ ràng, đây là một trong những thủ đoạn quen thuộc mà các đại diện của phía Sài Gòn thường sử dụng để phá hoại các đợt trao trả tù quân sự và tù dân sự của ta ở sân bay Lộc Ninh trong suốt một năm qua. Đối phương lại rắp tâm phá hoại cuộc trao trả tù dân sự lần này, nhưng chúng ta đã có kinh nghiệm để đối xử với chúng một cách sòng phẳng.

Bằng giọng nói nghiêm khắc và dứt khoát, Trung tá Phan Cẩn bác bỏ luận điệu của phía Sài Gòn mà ông gọi là "trắng trợn, lố bịch và hoàn toàn vô căn cứ". Không có bằng chứng gì để chống chế, Trung tá Thứ lớn tiếng ra lệnh cho tổ bay của phía Sài Gòn lên máy bay để trở về Biên Hòa ngay lập tức.

Trung tá Phan Cẩn lập tức chỉ tay về lá cờ nửa đỏ, nửa xanh trên đỉnh cột cờ ở giữa địa điểm trao trả và dõng dạc nói với Trung tá Thứ: "Quý vị hãy nhìn thật kỹ lá cờ đang tung bay trên đỉnh cột cờ kia. Máy bay của quý vị đang đỗ ở sân bay của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, nên không thể cất cánh nếu không có lệnh của chỉ huy sân bay chúng tôi. Quý vị cũng không thể rời Lộc Ninh nếu chưa hoàn thành việc trao trả cho Chính phủ Cách mạng lâm thời tất cả 25 tù dân sự có tên trong bản danh sách mà hai bên đã thỏa thuận".

Bị dồn vào thế "bị chiếu bí", Trung tá Thứ ậm ừ hồi lâu mà không nói ra lời. Cuối cùng y phải tiếp tục đọc tên của các tù dân sự còn lại trong bản danh sách. Người tù tiếp theo xuất hiện ở cửa máy bay trực thăng, trong bộ bà ba đen và với chiếc khăn rằn quấn quanh cổ, chính là người phụ nữ đứng hiên ngang trước tòa án của chế độ Sài Gòn - chị Võ Thị Thắng. Vẫn với "Nụ cười chiến thắng" trên môi và niềm xúc động không giấu nổi trên khuôn mặt xanh xao, chị bình thản bước xuống cầu thang máy bay trực thăng và nhẹ nhàng đặt đôi chân trần xuống mảnh đất giải phóng Lộc Ninh trong niềm vui vô bờ bến và tiếng vỗ tay nhiệt liệt của mấy trăm con người đến đón các anh chị em tù trở về với hàng ngũ cách mạng.

Gần 40 năm sau, vào đầu tháng 6/2012, tôi có dịp gặp lại chị Võ Thị Thắng ở Thành phố Hồ Chí Minh, khi các cựu chiến binh Liên hợp quân sự - Trại Davis ở các tỉnh phía Nam tổ chức lễ mừng công, nhân dịp hai Đoàn đại biểu quân sự ta được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chị Võ Thị Thắng và cựu chiến sĩ biệt động thành Nguyễn Văn Chiểu được mời tham dự sự kiện đầy ý nghĩa này. Lúc này, chị Thắng đã là một cán bộ cấp cao của Nhà nước nhưng chị vẫn giữ tác phong bình dị, thân thiện và nụ cười tươi tắn, lạc quan như xưa.

Bất ngờ được mời phát biểu, chị Thắng không có bài chuẩn bị sẵn. Chị nói những lời mộc mạc từ trái tim mình: "Vào những ngày kẻ địch sắp trao trả 25 người chúng tôi về với cách mạng, trong đó có anh Nguyễn Văn Chiểu, chúng luôn tìm mọi cớ để đàn áp, tìm mọi cách khiêu khích để ai đó không kiềm chế được mà manh động nhất thời, thì chúng sẽ xả súng tiêu diệt ngay lập tức. Hai tuần trước đã có 5 người bị giết hại trong một tình huống như vậy.

Chính quyền Sài Gòn âm mưu giam cầm chúng tôi mãi mãi, điều này chúng tôi chỉ được biết sau khi đã trở về với cách mạng. Chúng tôi không được bọn chúng phổ biến về Hiệp định Paris và các điều khoản trao trả tù chính trị theo quy định của Hiệp định. Nhưng bằng cách riêng, chúng tôi vẫn biết Hiệp định Paris đã được ký kết, trong đó có các điều khoản trao trả tù chính trị. Nhưng chúng tôi không có căn cứ pháp lý để đấu tranh. Dẫu vậy, chúng tôi đã thỏa thuận trong nội bộ rằng chúng tôi sẽ đoàn kết, bình tĩnh, kiên nhẫn và khôn khéo đấu tranh để được trở về với cách mạng...".

Với giọng nói đầy xúc động, chị Thắng kể tiếp: "Sáng 6/3/1974, bọn cai ngục và lính gác dồn ép 25 người chúng tôi lên một chiếc trực thăng. Máy bay vội vã cất cánh, lượn mấy vòng trên bầu trời, rồi quay về nhà lao Tam Hiệp. Chúng định giở trò gì đây? Có thể chúng muốn đưa anh chị em chúng tôi đi thủ tiêu bí mật hoặc quẳng cả lũ xuống biển, như chúng từng làm nhiều lần với các bạn tù của chúng tôi. Chúng tôi giữ thái độ bình tĩnh, kiên quyết nhưng đúng mực, như đã nhất trí với nhau từ trước. Nhờ sự đấu tranh kiên quyết của các đồng chí trong Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Cách mạng lâm thời ở Trại Davis, nhờ sự ủng hộ hết lòng của đồng bào cả nước và một phần nhờ phương pháp đấu tranh khôn khéo của chúng tôi, mà kẻ thù đã không dám giết chúng tôi. Cuối cùng, chúng buộc phải trao trả chúng tôi ở sân bay Lộc Ninh ngày 7/3/1974".

-------

1 "Tù dân sự" là thuật ngữ sử dụng trong văn bản Hiệp định Paris, trong ngôn ngữ bình thường họ là "tù chính trị".

2 Trích từ cuộc họp tại Nhà Trắng ngày 30/11/1972; Larry Berman, "No Peace, No Honor", The Free Press, New York, 2001, trang 203-204 và trang 254.

3 Trích từ cuộc trao đổi giữa Kissinger và Nguyễn Phú Đức ngày 1/12/1972. Larry Berman, "No Peace, No Honor", Sđd, trang 202.

4 Trích điện mật của Đại sứ Bunker gửi từ Washington cho Phó Đại sứ Whitehouse ở Sài Gòn ngày 4/3/1973; Larry Berman, "No Peace, No Honor", Sđd, trang 254.

Phan Đức Thắng



















Home Icon VỀ TRANG CHỦ