Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI bắt đầu đợt làm việc thứ 2

Đồng chí Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI và đại biểu dự kỳ họp.
Các đồng chí: Lê Thị Kim Dung, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI; Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn hoạt động chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI cùng các ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI tham dự kỳ họp.
Theo chương trình, buổi sáng ngày làm việc đầu tiên của đợt 2, Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI đã được Quốc hội thông qua tờ trình, báo cáo thẩm tra và tham gia thảo luận tại tổ về: Dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công; dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương...
Buổi chiều, Đoàn tiếp tục thảo luận ở hội trường về các nội dung kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030…
Khơi thông nguồn lực, tạo cơ chế đặc thù để phát triển văn hóa
Tham gia thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam, đại biểu Lý Thị Lan khẳng định sự cần thiết ban hành Nghị quyết nhằm thể chế hóa kịp thời Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đây là một nghị quyết rất quan trọng, không chỉ nhằm thể chế hóa kịp thời Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, mà còn tạo khung chính sách đủ mạnh để khơi thông nguồn lực, đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang, đại biểu đề nghị trong phần định hướng hoặc trong điều quy định về phạm vi, mục tiêu của Nghị quyết, nghiên cứu bổ sung câu theo hướng: “Phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế, du lịch, dịch vụ, công nghiệp văn hóa, tạo sinh kế bền vững cho người dân, nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có di sản và bản sắc văn hóa đặc thù”.
Đại biểu bày tỏ đồng tình với quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển. Đại biểu đề nghị bổ sung vào Điều 3: “Nguồn lực ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa, phải được ưu tiên phân bổ có trọng tâm, trọng điểm cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; tập trung cho bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có nguy cơ mai một.
Tại dự thảo điều 4, đại biểu đề nghị cần bổ sung thêm: “Nhà nước có chính sách hỗ trợ chính đồng bộ về đất đai, ngân sách, cơ sở vật chất, trang thiết bị và đào tạo nhân lực để phát triển; vận hành hiệu quả hệ thống thiết chế văn hóa, ưu tiên vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

Đại biểu Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI phát biểu ý kiến.
Tại điều 5, về công nghiệp văn hóa cần điều chỉnh bổ sung phát triển văn hóa theo hướng phân vùng phù hợp với đặc thù từng địa phương. Đối với miền núi thì ưu tiên mô hình kinh tế di sản, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng; khuyến khích mô hình mỗi di sản, mỗi sản phẩm, mỗi câu chuyện nhằm gia tăng giá trị kinh tế của di sản văn hóa.
Đại biểu cũng đề nghị là trong điều 6, bổ sung là nhà nước ưu tiên nguồn lực và cơ chế đặc thù để bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, chú trọng hỗ trợ nghệ nhân, người thực hành di sản và hoạt động truyền dạy; bổ sung là có chính sách đào tạo, bồi dưỡng đãi ngộ dành cho nghệ thuật, văn nghệ sĩ và cán bộ văn hóa cơ sở; khuyến khích truyền dạy di sản trong cộng đồng và trong trường học...
Tại Điều 6 về cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, đại biểu Ma Thị Thúy cơ bản thống nhất với nội dung dự thảo.
Đại biểu đánh giá cao việc dự thảo đã ưu tiên nguồn lực cho các giá trị văn hóa có nguy cơ mai một, đồng thời định hướng gắn bảo tồn với phát triển du lịch, tạo sinh kế bền vững cho người dân. Tuy nhiên, từ thực tiễn địa phương là tỉnh miền núi, đại biểu cho rằng, việc triển khai vẫn còn nhiều khó khăn. Nguồn kinh phí cho bảo tồn văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế, dễ dàn trải, thiếu trọng tâm. Các quy định về cơ chế, chính sách đặc thù còn mang tính khái quát, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, việc gắn bảo tồn với phát triển du lịch tiềm ẩn nguy cơ thương mại hóa, làm biến dạng giá trị truyền thống nếu thiếu định hướng và quản lý chặt chẽ.
Đại biểu cũng bày tỏ băn khoăn khi đội ngũ nghệ nhân, những người lưu giữ di sản, ngày càng cao tuổi, trong khi lực lượng kế cận còn mỏng, thiếu sự quan tâm, dẫn đến nguy cơ đứt gãy trong truyền dạy.

Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI tham dự kỳ họp.
Từ những vấn đề trên, đại biểu Ma Thị Thúy kiến nghị Chính phủ sớm ban hành quy định chi tiết theo hướng xác định rõ tiêu chí ưu tiên đầu tư, tập trung vào các loại hình văn hóa có nguy cơ mai một, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế đặc thù phù hợp với từng vùng, từng dân tộc; tăng cường phân cấp, trao quyền cho địa phương và cộng đồng, chủ thể của văn hóa; có chính sách đãi ngộ, tôn vinh nghệ nhân, đẩy mạnh đào tạo, truyền dạy cho thế hệ trẻ đảm bảo sự kế thừa bền vững...
Phát biểu tại tổ thảo luận, đồng chí Nguyễn Đắc Vinh, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI đã trao đổi, làm rõ thêm một số nội dung đối với dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đột phá phát triển văn hóa Việt Nam mà các đại biểu vừa thảo luận.
Đảm bảo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp khi thành lập thành phố Đồng Nai
Góp ý vào dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc thành lập thành phố Đồng Nai trực thuộc Trung ương, đại biểu Ma Thị Thúy cơ bản đồng tình với quy định tại khoản 3, Điều 3 về việc tiếp tục áp dụng các cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh Đồng Nai sau khi chuyển thành thành phố trực thuộc Trung ương. Theo đại biểu, đây là quy định cần thiết nhằm bảo đảm tính ổn định của bộ máy, đầu tư công, các chương trình phát triển và quyền lợi của đội ngũ cán bộ trong giai đoạn chuyển đổi.

Đại biểu Ma Thị Thúy, Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI phát biểu ý kiến.
Tuy nhiên, đại biểu cho rằng quy định hiện vẫn còn khái quát, có thể dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau giữa các cơ quan. Do đó, đại biểu đề nghị Chính phủ sớm rà soát, công bố danh mục cụ thể các cơ chế, chính sách đặc thù tiếp tục được áp dụng; đồng thời làm rõ nguyên tắc xử lý đối với các chương trình, dự án đang triển khai, nhằm bảo đảm tính thống nhất và hiệu quả trong thực hiện.
Bên cạnh đó, đại biểu Ma Thị Thúy nhấn mạnh cần bổ sung nguyên tắc bảo đảm thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi.
Theo đại biểu, việc quy định rõ nguyên tắc “không gây phiền hà, không làm gián đoạn dịch vụ công” sẽ là cơ sở quan trọng để các cơ quan tổ chức thực hiện đồng bộ, thống nhất, qua đó bảo đảm quá trình chuyển đổi diễn ra thuận lợi, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
Cần cơ chế kiểm soát chặt chẽ và phân cấp mạnh mẽ
Thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về thực hiện thí điểm chế định luật sư công, đại biểu Lý Văn Huấn bày tỏ sự đồng tình với việc ban hành Nghị quyết, phạm vi điều chỉnh, phạm vi thí điểm tại 8 bộ, 10 địa phương. Đại biểu Lý Văn Huấn đặc biệt quan tâm đến các hành vi bị nghiêm cấm.
Tại Điều 4 của Nghị quyết quy định về các hành vi bị nghiêm cấm, đại biểu bổ sung tại điểm C, khoản 1 về hành vi nghiêm cấm. Cụ thể là cấm cung cấp tài liệu, chứng cứ cho luật sư khác để thực hiện hành vi trái pháp luật. Như vậy, tại điểm C có thể viết là: “Cung cấp tài liệu, chứng cứ; móc nối, giao dịch với luật sư khác để thực hiện hành vi trái pháp luật”.
Tại khoản 1 Điều 6 của Nghị quyết quy định về cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề, đại biểu đồng tình với quy định về thẩm quyền của Bộ Tư pháp trong việc cấp lại, thu hồi chứng chỉ. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị phân cấp, phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh có quyền cấp lại và thu hồi đối với luật sư công thuộc địa phương.

Đại biểu Lý Văn Huấn, ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI tham gia thảo luận.
Liên quan đến chế độ chính sách tại Điều 10, đại biểu Lý Văn Huấn kiến nghị thay đổi cách chi trả từ hỗ trợ hàng tháng sang chi trả theo vụ việc. Đại biểu phân tích, do luật sư công hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, việc trả lương theo vụ việc sẽ đảm bảo tính công bằng, khách quan, từ đó tạo động lực để luật sư đầu tư nghiên cứu hồ sơ và nâng cao chất lượng công việc.
Đại biểu cũng đề nghị Chính phủ cần có quy định cụ thể, làm rõ hình thức xử lý trách nhiệm khi luật sư công thực hiện hành vi trái pháp luật để đảm bảo tính thống nhất và kỷ cương trong thực thi nhiệm vụ.
Cần cơ chế đầu tư đặc thù cho hạ tầng số tại các tỉnh miền núi, biên giới
Tham gia thảo luận tại hội trường, đại biểu Lý Thị Lan nhất trí cao với dự thảo Nghị quyết về phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2026-2030. Đặc biệt là xác định các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu và thống nhất trong tư duy và hành động để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP đạt từ 2 con số trở lên.
Từ thực tiễn các tỉnh miền núi, biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đại biểu cho rằng cần nhìn vấn đề mang tính nền tảng, có ý nghĩa quyết định đối với khả năng hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 57. Đó là hạ tầng số ở các khu vực này chưa được phát triển đồng bộ, không chỉ do khoảng cách công nghệ, mà chủ yếu còn thiếu từ những điều kiện hạ tầng cơ bản, nhất là điện, viễn thông và cơ chế đầu tư công chưa phù hợp với đặc thù địa bàn.

Đại biểu Lý Thị Lan, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Trưởng đoàn hoạt động chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh Tuyên Quang khóa XVI phát biểu thảo luận.
Về bản chất, chuyển đổi số đối với miền núi không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà là phương thức rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Thực tiễn cho thấy, ở đâu triển khai hiệu quả, ở đó khả năng tiếp cận dịch vụ công, giáo dục, y tế và thị trường được cải thiện rõ rệt. Trong điều kiện địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư hạ tầng lớn, chuyển đổi số càng có ý nghĩa trong việc đưa dịch vụ đến gần người dân và đưa quản trị đến sát cơ sở.
Tuy nhiên, giữa yêu cầu và thực tiễn triển khai hiện nay vẫn còn khoảng cách. Tại tỉnh Tuyên Quang, sau hợp nhất, địa bàn rộng hơn, yêu cầu quản trị cao hơn, nhưng vẫn còn 41 thôn chưa có điện, 357 thôn, xóm có điện nhưng chưa ổn định và 199 thôn còn trắng sóng và lõm sóng; trang thiết bị ở cơ sở còn thiếu đồng bộ. Dù toàn tỉnh đã có hơn 3.000 trạm BTS, 100% trung tâm xã có cáp quang, 5G, nhưng vẫn chưa bảo đảm khả năng tiếp cận đồng đều cho người dân ở các thôn, bản khó khăn.
Đại biểu đề xuất 3 kiến nghị: Thứ nhất, Chính phủ rà soát, hoàn thiện định mức đầu tư hạ tầng số theo hướng phân biệt rõ địa bàn đặc biệt khó khăn; tính đúng, tính đủ chi phí đầu tư, vận hành và bổ sung hệ số điều chỉnh phù hợp. Thứ hai, tổ chức đầu tư theo hướng tích hợp điện - viễn thông - hạ tầng số trong cùng một chương trình hoặc dự án, lồng ghép các nguồn lực hiện có, và xác định rõ đầu ra đến cấp thôn, bản. Thứ ba, nâng cao hiệu quả thực thi chính sách viễn thông công ích; đồng thời tăng cường vai trò đầu tư của Nhà nước tại các khu vực đặc biệt khó khăn.
Tham gia ý kiến đối với công tác quy hoạch - định vị vai trò các địa phương trong liên kết vùng. Đại biểu nhận định, trong bối cảnh nguồn lực đầu tư còn hạn chế, việc xác định rõ vai trò của từng địa phương trong quy hoạch vùng không chỉ là yêu cầu về mặt quy hoạch, còn là điều kiện để bảo đảm đầu tư có trọng tâm, có liên kết và có khả năng lan tỏa.
Vì vậy, đại biểu đề nghị Chính phủ cần tiếp tục rà soát, cụ thể hóa vai trò của các địa phương miền núi trong quy hoạch vùng, gắn với chức năng kết nối và lan tỏa.
Tiếp tục chương trình làm việc, ngày 21-4, đại biểu sẽ tham gia thảo luận theo các nội dung chương trình kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI.
Thanh Tùng
6 giờ trước
11 giờ trước
16 giờ trước
17 giờ trước
17 giờ trước
17 giờ trước
17 giờ trước
1 ngày trước
1 ngày trước
1 ngày trước
3 ngày trước
1 giờ trước
43 phút trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước
1 giờ trước